Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may của một số quốc gia trên thế giới

Thứ tư, 12 Tháng 2 2014 16:21

KINH NGHIM PHÁT TRIN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ(CNHT) DT MAY CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

                                                             Thạc sỹ Nguyễn Thị Dung Huệ

(Tạp chí Kinh t ế Đối ngoại số 48)

Trong những năm gần đây, ngành dệt may đã đóng góp đáng kể vào việc giải quyết công ăn việc làm và nâng cao kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, các doanh nghiệp dệt may nước ta vẫn chủ yếu là các nhà cung cấp cấp thấp, dựa trên chi phí thấp và dễ bị thay thế. Để thâm nhập sâu hơn vào mạng sản xuất dệt may toàn cầu cũng như tạo dựng các mạng sản xuất của riêng mình, phát triển CNHT dệt may là một điều kiện tối cần thiết. Do đó, nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của cácnưc CNHT dệt may pháttriểnmnh trongkhuvc như NhậtBản, TrungQuốc,và HànQuốc sẽ đem lại những bài học có giá trị, gợi mở những giải pháp cho những nước đi sau như Việt Nam.

Bài viết này sẽ tổng kết kinh nghiệm phát triển thành công CNHT dệt may của Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc thành 7 bài học lớn.

1. Coi dệt may là một ngành công nghiệp nền tảng trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp hóa, từ đó tạo thị trường để phát triển CNHT dệt may

            Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hầu hết các nước đều tập trung phát triển công nghiệp nhẹ làm nền tảng cho phát triển công nghiệp nặng sau này. Trong đó, công nghiệp dệt may thường được coi trọng và có nhiều điều kiện phát triển mạnh. Công nghiệp dệt may phát triển tạo ra thị trường để phát triển CNHT dệt may.

            Nhật Bản, ngành công nghiệp dệt may đã xuất hiện vào những thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ XIX. Đến năm 1913, nước này đã xuất khẩu hàng loạt các mặt hàng nguyên phụ liệu dệt may như tơ sống, vải lụa, và hàng dệt bông với kim ngạch xuất khẩu chiếm 55% tổng giá trị xuất khẩu cả nước. Và đến 1929 tỷ lệ này được nâng lên 66%, riêng tơ sống chiếm 40% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (Hoàng Văn Châu, 2009). Trong thời kỳ đầu của công nghiệp hóa thì ngành kéo sợi và ngành dệt vải đã trở thành công nghiệp hiện đại quan trọng trong nền kinh tế của Nhật Bản. Đến cuối thập niên 1970, ngành dệt may của Nhật Bản đã bắt đầu giảm đi do xu hướng công nghiệp hóa liên tục đã làm tăng lương trong nước và các chi phí sản xuất khác, làm cho các nhà sản xuất vải may mặc của Nhật mất lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Trung Quốc có ngành công nghiệp dệt may là ngành có truyền thống phát triển lâu đời. Ngay từ khi mới thực hiện quá trình công nghiệp hóa, dựa trên lợi thế về truyền thống lâu đời và nguồn lao động dồi dào, Chính phủ Trung Quốc đã coi dệt may và CNHT dệt may là những ngành công nghiệp mũi nhọn và tập trung hỗ trợ phát triển. Nhờ vậy, ngành dệt may Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng với mức tăng trưởng 500% từ năm 1990 đến năm 2008, giá trị sản lượng tăng từ 10 tỷ USD lên tới 50 tỷ USD, sử dụng 15 triệu nhân công, sản xuất 25 tủ m2 vải. Ngành CNHT dệt may của Trung Quốc đã gặt hái được rất nhiều những thành công đáng chú ý. Ngành sản xuất vải bông, với bề dày hơn 2000 năm phát triển, đã phát triển với tốc độ chóng mặt. Hàng năm, sản lượng bông của Trung Quốc lên đến 6 triệu tấn, chiếm 1/3 sản lượng bông toàn thế giới. Nguồn cung cấp bông dồi dào đã làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển mạng lưới sản xuất nguyên liệu cho ngành may mặc của Trung Quốc (Đinh Phi Hồ, 2008).

Đối với Hàn Quốc, công nghiệp dệt may đã trở thành ngành công nghiệp quan trọng. Trong những năm 1960, Hàn Quốc tập trung sản xuất hàng hóa sơ cấp như lụa. Nhưng từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Hàn Quốc đã thành công trong việc xây dựng và củng cố vị trí của mình trên thị trường hàng dệt may thế giới. Đến năm 2004, Hàn Quốc đã đứng thứ tư thế giới về xuất khẩu hàng dệt, năm 2005 đứng thứ 5 và năm 2006 giữ vị trí thứ sáu về ngành hàng này trong thương mại quốc tế, sau Trung Quốc, EU, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ và Ấn Độ. Đặc biệt, Hàn Quốc còn là quốc gia đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu vải sợi tổng hợp, chiếm 8,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới về mặt hàng này (Đỗ Thi Loan, 2008). Không những thế, Hàn Quốc còn nhanh chóng nổi lên như một quốc gia dẫn đầu về thời trang trong khu vực, vượt qua các đối thủ đi trước như Nhật Bản, Hồng Kông, v.v... Sự thành công này thể hiện sự đúng đắn trong đường lối phát triển ngành dệt may và CNHT dệt may của Hàn Quốc (Đỗ Thị Loan, 2008).

Kinh nghiệm các nước thành công trong phát triển dệt may nói chung và sản xuất nguyên phụ liệu dệt may nói riêng là: Tận dụng các lợi thế so sánh của nước mình ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa để phát triển kinh tế và đã lựa chọn ngành dệt may và CNHT dệt may, ngành thu hút nhiều lao động, giá nhân công rẻ, hàng hóa tập trung cho xuất khẩu để phát triển cho bước đi khởi đầu.

2. Có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Nhà nước

            Trong quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế thì vai trò của Nhà nước là rất quan trọng. Đối với ngành dệt may và CNHT dệt may, ngành công nghiệp khởi đầu cho quá trình công nghiệp hóa thì vai trò của nhà nước lại càng quan trọng hơn. Hầu hết quá trình phát triển ngành công nghiệp dệt may của các nước đều có ít nhiều yếu tố bảo trợ từ phía Chính Phủ, mặc dù các doanh nghiệp ở các nước này chủ yếu thuộc thành phần kinh tế ngoài nhà nước.

            Vào những năm 1930, Chính phủ Nhật Bản đã can thiệp vào lĩnh vực sản xuất tơ tằm bằng cách thiết lập sự kiểm tra, kiểm soát về chất lượng ở một số khâu quan trọng, hình thành các trạm kiểm tra chất lượng ở các hải cảng nhằm đảm bảo chất lượng trước khi xuất khẩu, ban hành luật kiểm tra trứng tằm, theo đó quy định các nhà nuôi tằm chỉ được mua trứng tằm của các nhà buôn có giấy phép. Nhờ sự can thiệp trên mà chất lượng tơ của Nhật Bản đã được thế giới đánh giá rất cao, Nhật Bản đã thắng thế trong cạnh tranh với tơ của Trung Quốc trên thị trường thế giới. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn thực hiện hỗ trợ các gia đình nông dân thông qua việc thành lập các hộ tín dụng để cho nông dân vay vốn, thực hiện các biện pháp giúp đỡ về kỹ thuật. Ngoài ra, Nhật Bản còn thực hiện chính sách bảo hộ qua thuế, hầu hết các mặt hàng dệt may nhập khẩu vào Nhật đều có mức thuế suất cao hơn rất nhiều so với các nước phương Tây.

Còn đối với thành công của ngành dệt may và CNHT dệt may của Trung Quốc thì những nỗ lực mà Chính phủ đã làm thực sự có ý nghĩa quan trọng. Kể từ cuối thập kỷ 70 cho đến trước năm 1998, cũng giống các quốc gia đang phát triển khác, ngành dệt may của Trung Quốc đặc trưng với trang thiết bị lạc hậu, cơ sở sản xuất nhỏ, phân tán, hiệu quả sản xuất thấp. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 đã gây ra sự mất giá của một loạt các đồng tiền trong khu vực và tác động mạnh đến sức cạnh tranh của hàng dệt may Trung Quốc. Đứng trước những khó khăn này, vào năm 1998, chính phủ Trung Quốc thông qua kế hoạch cải tổ, hiện đại hóa các xí nghiệp dệt may, đặc biệt là ưu tiên phát triển hoạt động sản xuất nguyên liệu thượng nguồn.

- Khuyến khích loại bỏ các máy móc cũ và lạc hậu: Để khuyến khích việc loại bỏ máy móc cũ, thay thế máy móc mới cũng như giải quyết các khó khăn về tài chính của doanh nghiệp, Chính phủ Trung Quốc thực hiện trợ cấp cho ngành dệt thông qua hình thức cấp tiền trợ cấp và cho vay ưu đãi cho các doanh nghiệp để loại bỏ số cọc sợi cũ (trợ cấp 3 triệu Nhân dân Tệ và cho vay ưu đãi 2 triệu Nhân dân Tệ với mỗi 10.000 cọc sợi cũ bị loại bỏ) (Nguyễn Xuân Nữ, 2004). Chính sách này đi kèm với việc Trung Quốc tăng các mức thuế khác để bù đắp chi phí khi xuất khẩu hàng dệt may. Nhờ đó, riêng năm 1998, Trung Quốc bỏ 5,12 triệu cọc sợi cũ, chấp nhận cắt giảm 60.000 việc làm trong ngành dệt

- Quy hoạch tập trung ngành dệt may: Chính phủ Trung Quốc đã quy hoạch tập trung sản xuất dệt may vào các khu vực duyên hải có truyền thống lâu năm về ngành sản xuất nguyên phụ liệu và may mặc nhằm tận dụng kinh nghiệm sản xuất, điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng và lực lượng lao động dồi dào có tay nghề cao tại các khu vực này. Việc quy hoạch tập trung cũng nhằm phát huy lợi thế về quy mô sản xuất để hạ giá thành sản phẩm.

- Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất dệt may, nguyên phụ liệu dệt may: Chính phủ Trung quốc đã xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ và có những chính sách ưu đãi đặc biệt với các nhà đầu tư nước ngoài. Chẳng hạnngày 11/10/1996 “qui định về khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài” đã giảm mức thuế thu nhập từ 30% xuống còn 15% và cho các doanh nghiệp ở đặc khu kinh tế chỉ còn 10%, miễn thuế 5 năm đầu cho các doanh nghiệp mới thành lập ở đặc khu, miễn thuế thu nhập khi chuyển lãi ra nước ngoài, hoàn trả thuế thu nhập cho phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư, v.v... Đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may còn giúp phát triển công nghệ và các chiến lược thị trường, thông qua đó nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm (Đại học Ngoại thương, 2009).

- Hỗ trợ xuất khẩu: Năm 1986, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện hoàn trả thuế trung gian và VAT. Năm 1988, Trung Quốc đã hoàn trả thuế gián tiếp luỹ tiến ở các khâu, hình thành các quĩ hỗ trợ tín dụng nhằm cấp tín dụng xuất khẩu, tín dụng cải tiến kỹ thuật, v.v... Những chính sách hỗ trợ xuất khẩu này đã khuyến khích các doanh nghiệp dệt may đổi mới năng lực và hiện đại hoá công nghệ, thiết bị, dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Còn ở Hàn Quốc, có thể nói công nghiệp dệt may và CNHT dệt may có thể phát triển được là do sự trợ giúp tích cực của chính phủ cùng sự độc quyền của các Chaebol. Chính vai trò này của chính phủ và của các Chaebol đã giúp ngành công nghiệp dệt may của Hàn Quốc dễ dàng mở rộng quy mô sản xuất, hạ giá thành sản phẩm trên thị trường dệt may toàn cầu. Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện giúp đỡ các Chaebol dưới các hình thức khác nhau trong từng giai đoạn:

- Trong giai đoạn đầu hình thành các Chaebol vào những năm 1950, chính phủ đã cho vay vốn với lãi suất thấp hoặc không có lãi, chấp nhận tỷ giá hối đoái của các Chaebol thấp hơn tỷ giá thị trường.

- Giai đoạn những năm 1960, 1970 khi các Chaebol đã phát triển khá tốt, Chính phủ đầu tư vốn cho các công ty có tiềm năng, các khoản đầu tư được cân nhắc hơn, đồng thời hỗ trợ thành lập các công ty thương mại để phát triển xuất khẩu.

- Giai đoạn các Chaebol phát triển mạnh những năm 1980, 1990, Chính phủ thực hiện các biện pháp định hướng, khuyến khích các Chaebol tập trung vào các ngành có hàm lượng khoa học cao.

- Giai đoạn hiện nay, với nhiều biến cố về kinh tế đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, Chính phủ có chủ trương cải tổ cơ cấu các Chaebol, cho vay các khoản tiền lớn từ các tổ chức tài chính quốc tế.

Ngoài ra, chính phủ Hàn Quốc còn cho phép các doanh nghiệp dệt may và hỗ trợ dệt may tự do hoạt động trên thị trường, chỉ trợ giúp bằng cách đảm bảo nguồn cung cấp nguyên vật liệu, trợ giúp hoạt động xuất khẩu như đưa ra hệ thống hạn ngạch để quản lý xuất khẩu hàng may mặc của Hàn Quốc, khuyến khích các công ty nội địa bố trí hoạt động trên hầu hết các khâu, từ thượng nguồn đến hạ nguồn. Kết quả là ngành dệt may Hàn Quốc chiếm vị trí độc tôn trên thị trường nội địa, từ khâu hạ nguồn đến thượng nguồn. Trên thị trường nước ngoài, vai trò của Hàn Quốc trong phần hạ nguồn là rất quan trọng, thông qua ngoài việc xuất khẩu các nguyên liệu cho ngành dệt may. Các công ty Hàn Quốc cũng tham gia vào khâu thượng nguồn trong chuỗi giá trị toàn cầu ở nước ngoài.

3. Đầu tư có trọng điểm và đầu tư theo hướng hiện đại

Chính phủ Trung Quốc thực hiện các giải pháp hỗ trợ kinh phí để giúp các doanh nghiệp thay thế, đổi mới, hiện đại hóa công nghiệp dệt. Với thế mạnh là điều kiện thuận lợi về phát triển các nguyên liệu thượng nguồn từ nông nghiệp, nhất là bông và dâu tằm, Trung Quốcđã chủ động hầu hết các nguyên phụ liệu cho may mặc từ kéo sợi, sản xuất vải, cúc, chỉ, khóa, v.v... Đạt được kết quả này là do Trung Quốc đã không ngừng đầu tư, tiếp cận các công nghệ hiện đại trên thế giới, nhất là các lĩnh vực cơ khí, hóa chất, công nghệ sản xuất vải.

Hiện nay, để tăng sức cạnh tranh và chống lại những biện pháp “trả đũa” của các nước phương Tây, Trung Quốc đang giảm sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng dệt may giá rẻ, chuyển dần sang sản xuất các sản phẩm cao cấp. Do đó, các doanh nghiệp trong ngành CNHT cũng không ngừng đổi mới để theo kịp và hỗ trợ tốt nhất cho ngành dệt may.

Cũng giống như Trung Quốc, Hàn Quốc không ngừng đầu tư áp dụng các công nghệ hiện đại vào sản xuất vải và các sản phẩm dệt may. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào sản xuất kinh doanh là một minh chứng với hệ thống CAD/CAM (sử dụng máy tính trợ giúp cho thiết kế và sản xuất), qua đó đã tăng năng suất lao động. Riêng năm 1995, Hàn Quốc đã đầu tư 3 tỷ USD cho các hoạt động này.

Kinh nghiệm các nước cho thấy đầu tư cho hiện đại hóa công nghệ sản xuất theo hướng đón đầu các công nghệ hiện đại, mà không cần theo trình tự chuyển giao từ lạc hậu đến hiện đại. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất vải và nguyên phụ liệu may mặc là rất quan trọng. Đầu tư cho công nghệ sẽ góp phần tăng năng suất lao động và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, không những trong ngành sản xuất vải mà còn quyết định sự phát triển bền vững của sản phẩm may mặc.

4. Xây dựng các quan hệ liên kết kinh tế chặt chẽ

Bất cứ một ngành công nghiệp nào muốn phát triển mạnh mẽ đều phải dựa trên một nền tảng vững chắc, cũng như có một mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành công nghiệp cả theo chiều dọc và chiều ngang.

-Liênkếtdọc:Đối với ngành dệt may, quan hệ theo chiều dọc của ngành này được biểu hiện dưới dạng chuỗi giá trị như sau:

Sản xuất nguyên liệu à Kéo sợi à Dệt vải à Nhuộm, in vải à Cắt may à Phân phối hàng may.

NhậtBn đãhìnhthànhmộthệthốngliênkếtdọcdướcdạngcáccáccôngtyliênhợpsi-dệt.Môhìnhmanglạiưuthếlàcótimlcmạnh đầutưcôngnghệhiện đạinên đãsảnxuấtnhiềuloạivảicaocp,sứccạnhtranhlớnhơn.ThchiệnliênkếtdọccủangườiNhật Bảnmanglạicáclợiíchlớn:

+Tiếtkimchiphí đónggói, đánhngvàvnchuyểndo các cơ sở sảnxuấtsợivà dệt được đtgần nhau;

+Pháthiệnkịpthờicáclỗidokhâukéosợi,từđóchỉnhsửakịpthi, đôikhicòn tìmracáccách phachếbôngvàkéosợitthơn;

+Tiếtkimchiphídotínhchuyênmônhóacaocủacáccôngtykéosợichỉkéomộtsố ítlợi sợi vớisốlượnglớnphụcvụ côngtydệt vải.

Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn đóng một vai trò quan trọng trong phát triển liên kết giữa các nhà thầu phụ mà chủ yếu là các doanh nghiệp hỗ trợ dệt may vừa và nhỏ với các doanh nghiệp dệt may lớn. Nhật Bản đã xây dựng các chính sách công nghiệp nhằm kịp thời đáp ứng những biến đổi trong môi trường kinh doanh, và cân bằng lợi ích giữa DNVVN và doanh nghiệp dệt may lớn. Ví dụ, vào năm 1949, chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật về Hợp tác với DNVVN nhằm bảo vệ quyền đàm phán của DNVVN và tạo điều kiện cho họ tiếp cận với công nghệ mới và các nguồn vay. Trong những năm l950, các nhà thầu phụ thường bị các công ty mẹ trì hoãn thanh toán. Chính phủ đã can thiệp bằng việc ban hành Luật Phòng chống trì hoãn thanh toán chi phí thầu phụ và các vấn đề liên quan vào năm l956 nhằm ngăn chặn tình trạng trì hoãn thanh toán cho các nhà thầu phụ. Trong những năm l960 và l970, ngành chế tạo mở rộng nhanh chóng nhờ việc sản xuất hàng loạt dẫn đến cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp lớn vì thế rất cần các nhà thầu phụ có khả năng nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí để giúp họ tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Chính phủ hỗ trợ xu thế này thông qua việc ban hành Luật xúc tiến Doanh nghiệp thầu phụ vừa và nhỏ vào năm l970 để tạo thuận lợi cho các hoạt động thầu phụ. Ngoài ra, các nhà máy dệt và may mặc của Nhật Bản đã tồn tại và phát triển vững trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu ngày nay là do họ đã thiết lập được một chuỗi cung ứng hiệu quả giữa các ngành có liên quan. Sự hợp tác trong từng hãng sản xuất tại các ngành khác nhau sẽ giúp giảm chi phí sản xuất cho các doanh nghiệp, đồng thời góp phần tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này.

Giống như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng rất quan tâm thúc đẩy mối liên kết ngược giữa các doanh nghiệp hỗ trợ dệt may vừa và nhỏ với các doanh nghiệp dệt may lớn, đồng thời coi đó là nền tảng cơ bản để phát triển các DNVVN trong lĩnh vực CNHT dệt may trong dài hạn. Hàn Quốc đã áp dụng một chính sách từ trên xuống, lựa chọn một số công ty lớn làm nhân tố chủ chốt và yêu cầu họ mua nguyên phụ liệu từ các DNVVN được ưu tiên phát triển.

-Liênkết ngang:Là nhthc liênkếtgia cácdoanhnghiệpsnxuấtvảivớinhau,tạothànhcác khucôngnghiệp,cáctrungtâmdệtvải.Hìnhthcliênkếtchuyênmôn hóatheo chiềungang đã pháthuy hiệuquảở Trung Quốc.Hìnhthcchuyênmônhóatheochiềungang đãdẫn đếnviệccơcấuvàphânbốlạilclưngsảnxuấttheovùng. Liênkếtngangở Trung Quốc đã manglạicáclợiích:

+Pháthuylợithế củakinhtếvùng;

+Cáccôngtysẽ hỗ trợlẫn nhauvề khoahọc kỹthuậtvà tổ chc sảnxuất,cáccông tylncòngiúp đỡ cáccôngtynhỏvềtiêuthụsảnphm;

+Cáccôngtytậptrungchuyênsâuvàomột loạisảnphm,từ đócó điềukiệnnâng caochtlượng snphmvàtránhtrùnglặpsảnphmgiacáccôngty.

Hình thức liên kết ngang đã mang lại nhiều thành công cho ngành công nghiệp dệt nói riêng và cả quá trình công nghiệp hóa ở Trung Quốc nói chung. Bên cạnh giá nhân công và nguyên liệu rẻ, sự hỗ trợ của các nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu trong nước chính là các yếu tố quan trọng làm nên thành công của dệt may Trung Quốc. Cho đến nay, Trung Quốc có hàng ngàn DNVVN, thậm chí có những xí nghiệp quy mô rất nhỏ cung cấp các sản phẩm hỗ trợ cho ngành dệt may. Trung Quốc đã sản xuất được trên 80 % nguyên phụ liệu cho ngành này. Điều này là lợi thế hơn hẳn của Trung Quốc so với các nước có lợi thế tương tự về lao động, trong đó có Việt Nam.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng như Nhật Bản hay Hàn Quốc đều chú trọng tăng cường liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hỗ trợ dệt may nội địa với các doanh nghiệp có vốn FDI . Việc liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hỗ trợ dệt may có vốn FDI với các doanh nghiệp cùng ngành trong nước sẽ giúp khai thác công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các doanh nghiệp FDI. Liên kết giữa các nhà cung cấp nội địa với doanh nghiệp dệt may nước ngoài, đặc biệt các tập đoàn đa quốc gia và xuyên quốc gia tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước chen chân được vào hệ thống sản xuất của các tập đoàn này.

Tóm lại, thực tế phát triển tại các nước có nền CNHT mạnh trong khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc, hay Hoàn Quốc cho thấy chỉ khi xây dựng các quan hệ liên kết kinh tế chặt chẽ và thông suốt thì CNHT dệt may mới có thể phát triển tốt được.

5. Thu hút vnđầu tư nướcngoài, thúc đẩy buôn bán vàtạo điều kiệnkhuyếnkhíchxuất khẩu

Một trong những yếu tố có đóng góp và thúc đẩy to lớn cho sự phát triển của CNHT dệt may ở nhiều nước đang phát triển trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Bởi lẽ ngành dệt may là ngành mà các nước Châu Á đang phát triển có khá nhiều lợi thế so sánh cũng như những lợi thế cạnh tranh dựa trên truyền thống phát triển ngành dệt may lâu đời, lao động dồi dào, rẻ và chăm chỉ nên tính hấp dẫn của ngành này đối với FDI dường như là một yếu tố hết sức tự nhiên hay tất yếu.

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy ngay từ đầu cần phải có chính sách rõ ràng trong việc thu hút FDI vào phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, kết hợp ưu đãi với các chính sách xúc tiến đầu tư.

Sau khi mở cửa nền kinh tế và thực hiện các chính sách nhằm vào nông thôn thì bước tiếp theo mà Trung Quốc thực hiện là thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài và thúc đẩy xuất khẩu. Việc làm đầu tiên là thành lập thử nghiệm bốn đặc khu kinh tế, với mục đích thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của nước ngoài, đồng thời tạo điều kiện để xuất khẩu ra nước ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây. Để thu hút FDI, Trung Quốc đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong các đặc khu kinh tế về cơ sở hạ tầng, ưu đãi về thuế, thủ tục hải quan, v.v…

Bên cạnh đó, để khuyến khích việc trao đổi buôn bán, Trung Quốc đã thực hiện giảm sự độc quyền của Chính phủ đối với ngoại thương, thực hiện các biện pháp khuyến khích xuất khẩu như lập các ngân hàng tín dụng có lãi suất ưu đãi, có các điều kiện phù hợp cho phát triển thương mại quốc tế. Với các chính sách trên đã làm tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc tăng từ 80 tỷ USD năm 1990 lên 135 tỷ USD năm 1994; tính đến năm 2006 chỉ tính riêng xuất khẩu hàng dệt may là 174 tỷ USD, và mục tiêu đạt 20 tỷ USD tới năm 2015 (Tống Duy, 2009).

            ĐốivớiHànQuốc,khuyếnkhíchxutkhẩu đượccoilà định hướngcơbảncủaChínhphủHànQuốctrongphát triểnkinhtế.Vớibấtlợithếsovớicácnướckháclà phảinhậpkhẩulươngthcvànguyênliệuchocôngnghiệpbắtbucHànQuốcphảitạoranguồnngoitệcầnthiết, điềunày đượcgiảiquyếtthôngqua chínhsáchkhuyếnkhíchthúc đyxuấtkhẩu,trong đóxuấtkhẩumaymặc đóngvaitròquantrọng.

            Kinhnghimcủacácnước nói trên cũnglàbàihọccho các nước đi sau trongviệcxâydng cáckhucông nghiệpdệt vải,vớicác điukiệnthuậnlợi vềcơ sởhạtng đưngxá,thoátnước,hệthốngnướcsạnhvàxửnước đúngtiêuchuẩn,cácchế độquy địnhvềlao động đmbảonângcaochấtlưngsảnphm đồngthờicũngtạocác điềukiệnvềthủtụchảiquan,thủtụchànhchínhnhmthuhútvốn đầutưnướcngoài, tiếpcậncôngnghệmớivà trình độ qunlýtiêntiến.

6. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)

DNVVN chiếm vị trí khá quan trọng trong nền kinh tế hiện đại ở rất nhiều quốc gia trên thế giới. Do những đặc thù của mình, có thể nói khu vực này khá thích ứng với CNHT nói chung và dệt may nói riêng như:

  • Nhờ quy mô vốn và lao động không quá cồng kềnh DNVVN có được khả năng linh hoạt trong việc bố trí sản xuất, lựa chọn và thay đổi chủng loại và mẫu mã sản phẩm.
  • Các DNVVN thường hay có những phát kiến cải tiến kỹ thuật rất đa dạng và hợp lý để tận dụng tối đa và thậm chí nâng cao hiệu năng của các loại công nghệ họ có trong tay, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp mình.

            Tuy nhiên, DNVVN thường gặp những hạn chế nhất định về vốn, công nghệ sản xuất, nguồn nhân lực đòi hỏi Chính phủ các nước cần có những cơ chế, chính sách hỗ trợ để phát triển khu vực này theo đúng hướng. Vì vậy, Chính phủ nhiều nước rất quan tâm đến việc khuyến khích phát triển khu vực này trong lĩnh vực CNHT dệt may. Các hoạt động hỗ trợ tập trung vào những điểm yếu của DNVVN như hỗ trợ về tài chính, hỗ trợ về phát triển công nghệ, về đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, tư vấn quản lý, v.v…

Nhật Bản là một trong số các quốc gia có nền công nghiệp dệt may phát triển nhất châu Á và trên thế giới với hàng nghìn các doanh nghiệp vệ tinh khác sản xuất các loại nguyên phụ liệu hỗ trợ. Hiện ở Nhật Bản có nhiều tên tuổi tầm cỡ thế giới nhưng các công ty này chỉ chiếm 1% số lượng doanh nghiệp và công việc chủ yếu của họ là sản xuất các sản phẩm may mặc cuối cùng, còn trên 95% doanh nghiệp cấp thấp hơn sản xuất các nguyên phụ liệu cho các công ty này là các DNVVN. Chính phủ Nhật Bản có nhiều chính sách tích cực nhằm hỗ trợ cho các DNVVN trong CNHT dệt may, luôn quan tâm đến những doanh nghiệp này và đánh giá rất cao vai trò của họ trong việc thúc đẩy ngành CNHT dệt may phát triển. Vào những năm 1940, Chính phủ Nhật đã ban hành Luật hợp tác giữa các DNVVN với các thành phần khác, có hiệu lực năm 1949, nhằm tăng cường vị thế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thị trường cũng như tạo điều kiện để họ tiếp cận những công nghệ mới và nguồn vốn vay ưu đãi. Từ năm 1936, Nhật Bản đã có ngân hàng Shoko Chukin đầu tư vốn cho DNVVN, và đến năm 1949 đã có quỹ đầu tư vốn cho doanh nghiệp loại này. Chỉ mất 3 ngày, DNVVN có thể vay được vốn từ Chính phủ. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn thành lập những đơn vị bảo lãnh tín dụng có khả năng bảo lãnh cho DNVVN khi họ vay vốn từ các doanh nghiệp tư nhân khác (Ratana, 1999).

Bên cạnh những hỗ trợ về tài chính, DNVVN rất cần đến sự hỗ trợ về công nghệ. Ở Nhật Bản có tới 110 trung tâm hỗ trợ máy móc thiết bị để giúp đỡ các công ty nhỏ với khả năng tài chính có hạn có thể tiếp cận với máy móc thiết bị mới. Ngoài ra Chính phủ Nhật Bản còn xây dựng 47 trung tâm hỗ trợ công nghệ. Nhật Bản còn quan tâm tới việc xúc tiến các liên kết giữa các nhà cung cấp nguyên phụ liệu, thường là các doanh nghiệp nhỏ với các công ty lớn bằng việc thiết lập cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ dệt may. Các địa phương đều có cơ sở dữ liệu riêng với sự tham gia của các quan chức chính quyền, các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu. Các cơ sở dữ liệu này có chất lượng cao cung cấp thông tin chi tiết về các nhà cung cấp và rất dễ tiếp cận (Ratana, 1999).

Trong việc hỗ trợ DNVVN, có một điểm đáng chú ý là các DNVVN rất cần những định hướng và những quy định tạo khuôn khổ hoạt động cho họ từ Chính phủ. Ví dụ, Nhật Bản xây dựng tiêu chuẩn 5S đối với các doanh nghiệp sản xuất trong ngành CNHT, chủ yếu là các DNVVN. 5S bắt nguồn từ 5 chữ tiếng Nhật là Seiri (Sắp xếp, bố trí), Seiton (Hệ thống), Seisou (Đồng nhất), Seiketsu (Sạch sẽ) và Shituke (Giáo dục). Việc thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn này tạo hiệu quả đáng kể trong hoạt động của các doanh nghiệp, giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm sản xuất ra.

Một kinh nghiệm nữa được đúc kết từ thực tiễn các nước trong khu vực là các hoạt động hỗ trợ nên được xây dựng thành các chương trình. Những chương trình như thế thường có ngân sách rõ ràng, mục tiêu cụ thể giúp cho việc quản lý theo phương pháp hậu kiểm được thuận lợi và mang lại hiệu quả. Ví dụ, Hàn Quốc đã từng thành công trong việc khuyến khích DNVVN hoạt động trong lĩnh vực CNHT dệt may nhờ các chương trình 5 năm về qui định tỷ lệ nội địa hoá, hay các chương trình hỗ trợ phát triển các nhà cung cấp nguyên phụ liệu, chương trình liên kết hỗ trợ công nghiệp (ILP – Industrial Link Program), chương trình phát triển kỹ thuật (TDP – Technology Development Program), tổ chức hội chợ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu và các hội chợ công nghiệp, v.v…

Bên cạnh đó, cần coi trọng việc tạo dựng và phát triển thị trường đầu ra cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNHT dệt may. Tuy nhiên cách thức tạo dựng thị trường đầu ra có những sự khác biệt đáng kể trong các nước được nghiên cứu. Trung Quốc thì đặc biệt coi trọng việc phát triển thị trường cho các DNVVN trong nước thông qua phát triển các mạng lưới phân phối nội địa, tạo thị trường lớn cho các sản phẩm của doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung và doanh nghiệp CNHT dệt may nói riêng. Sự khác biệt của Trung Quốc là dựa trên những đặc trưng và lợi thế mà chỉ riêng Trung Quốc có được đó là sức mạnh truyền thống của các mạng lưới liên kết và phân phối trong văn hóa Trung Hoa cũng như quy mô thị trường nội địa khổng lồ của nước này khiến cho việc phát triển ngành CNHT dệt may có đủ điều kiện phát triển ngay cả trong trường hợp không kết nối với các mạng sản xuất nước ngoài.

7. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực CNHT dệt may

Nhân tố được coi là quan trọng nhất cho sự phát triển lâu dài của các ngành CNHT nói chung và CNHT dệt may nói riêng là nguồn lao động có kỹ năng cao. Theo quan điểm của hầu hết các doanh nghiệp Nhật Bản thì nguồn nhân lực còn quan trọng hơn nhiều máy móc hiện đại. Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao cần sự phối hợp của cả doanh nghiệp trong và ngoài nước, các cơ sở đào tạo. Chẳng hạn chương trình liên kết học đường - doanh nghiệp của Nhật Bản, trong đó Nhà nước đóng vai trò cung cấp cơ sở hạ tầng và thông tin thông qua các hạt nhân sáng tạo (Creation Core). Hiện nay, trên toàn nước Nhật Bản đã có 5 hạt nhân sáng tạo cấp quốc gia và 41 hạt nhân sáng tạo cấp tỉnh. Những hạt nhân này hoạt động với tư cách cầu nối giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNVVN. Nhờ đó, các cơ sở đào tạo có được mối liên hệ thường xuyên với cộng đồng doanh nghiệp, nắm rõ thực tiễn để cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Điểm mạnh chung trong ngành dệt may và CNHT dệt may Trung Quốc là lực lượng lao động dồi dào, đội ngũ nhân viên kỹ thuật giỏi, lực lượng lao động chính qui và có khả năng tận dụng trang thiết bị, máy móc tạo ra những sản phẩm mới, chất lượng cao. Ngoài ra, một trong những lợi thế lớn nhất của ngành dệt may, CNHT dệt may Trung Quốc là chi phí nhân công rẻ. Năm 2005, mức lương trung bình của lao động ngành này chỉ là 40 cent/h, bằng 1/3 mức lương lao động ngành dệt may ở Mexico. Nhờ chiến lược phát triển qui mô ở phạm vi rộng, máy móc thiết bị hiện đại giúp nâng cao năng suất lao động, hàng dệt may Trung Quốc có giá thành sản xuất rất thấp. Trong số những quốc gia xuất khẩu hàng may mặc vào thị trường Mỹ, thì giá hàng may mặc xuất khẩu của Trung Quốc có thể nói là thấp nhất, chỉ cao hơn giá xuất khẩu hàng may mặc của Bangladesh, thấp hơn giá xuất khẩu hàng may mặc trung bình của thế giới và thậm chí còn thấp hơn giá XK từ một số nước kém phát triển hơn trong khu vực như Việt Nam, Philippines, v.v...

Tóm lại, quá trình phát triển ngành CNHT dệt may của NhậtBản, TrungQuốc,và HànQuốc đã đạt được những thành tựu nhất định, đưa các doanh nghiệp trong nước kết nối được vào mạng sản xuất dệt may toàn cầu, và tạo giá trị gia tăng tốt hơn. Các nước đi sau nói chung và Việt Nam nói riêng cần tận dụng kinh nghiệm của các nước đi trước trên cơ sở có chọn lọc, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của nước mình

Tài liệu tham khảo

1. Hoàng Văn Châu (chủ biên) (2009), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ - Kinh   nghiệm của Nhật Bản và một số nước Châu Á”, Trường Đại học Ngoại Thương, Hà Nội.

  1. Hoàng Văn Châu (chủ biên) (2010), “Công nghiệp hỗ trợ - Kinh nghiệm từ các nước và giải pháp cho Việt Nam”, Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông.
  2. Tống Duy (2008), Năm 2009 dệt may của Trung Quốc và ngành công nghiệp dệt may bước vào một giai đoạn điều chỉnh chiến lược, http://www.incra.in.com truy cập 15/04/2011.
  3. Đinh Phi Hồ (2008), Giáo trình kinh tế phát triển, Nhà xuất bản thống kê.
  4. Đỗ Thị Loan (2008), Đẩy mạnh việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (global value chain – GVC) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ.
  5. Võ Đại Lược (2010), Sự bứt phá của Hàn Quốc và vài suy nghĩ về Việt Nam, Báo tuổi trẻ thủ đô, ngày 27/8/2010.
  6. Tổng cục Thống kê Trung Quốc (2004-2009), Số liệu tình hình xuất nhập khẩu dệt may Trung Quốc.
  7. Thống kêThương mại WTO (2006-2009), Tổng quan về ngành dệt may Trung Quốc.
  8. Ratana E. (1999) The role of small and medium supprting industries in Japan and Thailand, IDE APEC.
  9. Ryuichiro Inoue and Shigeru Itoga (1998), Future prospect of supporting industries in Thailand and Malaysia, Japan.
  10. Suzuky, S. (2006). Kankoku, buhin-sozai sangyou wo ikusei (Hàn Quốc, thúc đẩy cộng nghiệp linh phụ kiện và nguyên liệu). Nihon Keizai Shinbun.
  11. Terence P.Steward (2007), China’s support programs for selected industries: Textile and apparel, The Trade Lawyers Advisory Group, USA..
  12. Bộ Thương mại Trung Quốc, http://www.english.mofcom.gov.cn
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem 969 lần

Gửi bình luận

Hãy nhập đầy đủ các thông tin yêu cầu trong ô có dấu (*). Không được phép sử dụng mã HTML.

Danh mục

Đăng ký nhận tin

Bạn là:

Chương trình đang diễn ra

Website Nghiên cứu thị trườngLapKeHoach-T10BSC-T10SPSS-T11

Khóa học BSC & KPI Dịch vụ Điều tra Khảo sát Thị trường Dịch vụ Tư vấn BSC & KPI Dịch vụ tư vấn doanh nghiệp hàng tuần Dịch vụ Tư vấn chiến lược và tái cấu trúc doanh nghiệp

  • Bài xem nhiều
  • Tag

Tạp chí - Số mới nhất

Bìa tạp chí KTĐN số 67

 
:

Về chúng tôi

Sứ mệnh: Xây dựng Viện thành nơi hội tụ và tỏa sáng của tri thức, đảm bảo tốt điều kiện để các thành viên sáng tạo và phát triển, kiến tạo được các sản phẩm khoa học và giáo dục với hàm lượng giá trị gia tăng cao hướng tới thỏa mãn tối  đa nhu cầu thiết thực của khách hàng.

Giá trị cốt lõi: Sáng tạo, chuyên nghiệp, hiệu quả.

Slogan: Kiến tạo giá trị từ tri thức!

Đăng ký nhận tin

Bạn là: