Chương trình trọng tâm

vv1vv2vv3vv4vv5

Bài viết dưới đây thể hiện quan điểm cá nhân của Mitra Kalita - Phó chủ tịch cấp cao phụ trách các mục Tin tức, Quan điểm và Tin học tại CNN Digital.

IBM mới đây đã chọn Arvind Krishna làm CEO kế tiếp; không lâu sau đó, WeWork cũng bổ nhiệm Sandeep Mathrani vào vị trí giám đốc điều hành. Theo giới truyền thông, ngày càng nhiều CEO gốc Ấn góp mặt trong các tập đoàn lớn trên thế giới. Ông lớn công nghệ Google cũng không nằm ngoài 'hiện tượng' này.

Dưới đây là 9 yếu tố mà tôi cho rằng chúng ta đều có thể học được từ những CEO người Ấn Độ:

1. Chấp nhận biến cố

Doanh nghiệp đều phải phải đối mặt với biến cố tại thời điểm nào đó. Hãy nhìn vào Ấn Độ hiện tại. Người dân nơi đây đối mặt biến cố trong cuộc sống hàng ngày, ngay cả việc liệu họ có nước đánh răng vào mỗi sáng. Nhưng họ vẫn kiên trì, chấp nhận bất cứ điều gì vượt ngoài tầm kiểm soát. Điều này giúp người Ấn có khả năng thích nghi và kiên nhẫn với quá trình tồn tại của công ty.

2. Quan sát mọi lúc mọi nơi

Khả năng dự đoán yếu tố tạo nên thị trường là kỹ năng thiết yếu của người lãnh đạo. Người Ấn Độ luôn quan sát, nắm bắt thông tin và tạo kế hoạch B trong vô thức (đó là khi chúng tôi không có nước để đánh răng.)

Nhận định tuy không có gì mới mẻ nhưng lại chỉ ra mấu chốt của vấn đề: Chiến lược tốt nhất để doanh nghiệp tồn tại là khi họ biết cách kết hợp dữ liệu với điều kiện thị trường.

3. Tất cả quy về tỷ lệ và số liệu

Hãy nhìn nhận vấn đề theo cách này: "Khi bạn lớn lên ở đất nước 1 tỷ dân, mọi thứ đều quy về tỷ lệ; từ việc trúng tuyển mẫu giáo đến đại học; thứ hạng của bạn trong lớp; của lớp bạn so với lớp khác; đợt thi tuyển công chức nhà nước; 'trúng số' visa để ra nước ngoài." Tôi luôn ngưỡng mộ anh em họ khi còn bé vì họ luôn xuất sắc mọi trong thứ để tạo ra cơ hội cạnh tranh tốt nhất của chính mình.

Với 'trí thông minh dữ liệu', một người đã có thể giành được vị trí quan trọng trong tầng lớp lãnh đạo mà chưa cần đề cập đến kỹ năng cần có ở CEO hiện đại.

4. Giáo dục, đặc biệt là STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học)

Trung tâm nghiên cứu PEW cho biết dân nhập cư Ấn Độ là một trong những người có trình độ học vấn cao nhất ở Mỹ; 77,5% có bằng cử nhân hoặc cao hơn vào năm 2016 - tỷ lệ cao nhất của bất kỳ quốc gia nào tại đây - so với 31,6% người Mỹ bản địa.

5. Văn hóa làm việc gia đình và 'bố mẹ trực thăng'

'Bố mẹ trực thăng' dùng để ám chỉ những bậc phụ huynh luôn quan tâm, can thiệp quá mức đến đời sống con cái.

Chẳng hạn các công ty Ấn Độ có văn hoá hoà nhập gia đình và công việc, họ chào đón đồng nghiệp đến dự đám cưới em gái của mình, làm mờ ranh giới giữa gia đình và công việc trước khi điều này trở thành xu hướng tại các nước phương Tây.

6. Đa dạng

Sự đa dạng trong lực lượng lao động và lãnh đạo doanh nghiệp đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Khảo sát của Deloitte (cũng được điều hành bởi người Ấn) cho thấy 69% nhân viên tin rằng môi trường làm việc sẽ thú vị hơn dưới ban lãnh đạo đa dạng so với 43% có ý kiến ngược lại.

7. Tính 'nguyên bản'

Chúng ta đang ở trong thời đại cần tính xác thực cao, do sự xuất hiện của mạng xã hội như Twitter cũng như mọi người đang quan tâm vào giá trị, bản chất của một người lãnh đạo hơn là một cá tính thu hút.

Nooyi nhớ lại dung hoà nguồn gốc bản xứ khi trở thành lãnh đạo trên đất Mỹ. Bà kể lại việc đến Mỹ năm 1978 cũng với nỗi nhớ bộ môn cricket tại quê nhà và thay thế vào chỗ trống đó là bóng chày, cụ thể hơn là đội Yankee. "Tôi phát hiện ra ngôn ngữ kinh doanh cũng là bộ môn thể thao", bà chia sẻ trong buổi phỏng vấn, "mọi người trong kinh doanh phân tích cuộc chơi và nếu chúng tôi không phải một phần của quá trình, chúng tôi cảm thấy bị bỏ rơi. Vì vậy, tôi kết hợp tình yêu dành môn cricket cho đội Yankees khi đặt chân đến đây."

8. Thời gian là quý giá và vô hạn

Khi chuyển đến Ấn Độ vào năm 2006, tôi phát hiện ra khái niệm thời gian đồng bộ và cách áp dụng nó tại nơi làm việc. Người Mỹ thường nhìn nhận thời gian theo cách tuần tự, trắng đen, cuộc sống và công việc. Khái niệm nhìn nhận thời gian khác nữa là: "Cách chúng ta quan sát thời gian trôi qua; có phải một chuỗi sự kiện xảy ra liên tiếp hay đồng thời. Quá khứ, hiện tại và tương lai có điều liên quan đến nhau?"

9. Trọng dụng nhân tài

Ít ai có thể ngờ rằng một người nhập cư Mỹ lại trở thành CEO của công ty nằm trong danh sách Fortune 500. Đây được cho là triết lý trong cách làm việc của Mỹ. Đơn giản mà nói, đó là câu chuyện khó tin và cũng là nguyên lý của chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ được thị trường, nhà đầu tư, nhân viên luôn tin tưởng. Chính vị CEO này chấp nhận và khẳng định. "Tôi thấy vinh dự khi mình được trao nhiều cơ hội tốt và gặp nhiều may mắn đến như vậy," ông nói với nhóm nhân quyền phi lợi nhuận. "Thế nên giấc mơ Mỹ không phải chuyện trong cổ tích."

Thật vậy, và có lẽ các CEO Ấn Độ đã biến chúng thành hiện thực.

Nguồn: Kiến thức Kinh tế

Một cuốn sách rất nổi tiếng về Tư duy Lãnh đạo “#The_ten_golden_rules_of_leadership” đã tổng hợp và áp dụng tư duy vĩ đại từ các bậc thầy của mọi…

"Biết học hỏi từ chính những sai lầm của bản thân là một điều tốt. Nhưng còn tốt hơn nếu bạn biết học hỏi từ những thất bại của những người xung quanh”. Warren Buffett

"Thất bại dạy cho ta trở lên thông thái nhiều hơn thành công. Chúng ta quyết định những việc mình sẽ làm khi biết những điều mình sẽ không làm; những người không bao giờ mắc sai lầm sẽ chẳng bao giờ khám phá được những điều mới mẻ". Samuel Smiles, tác giả người Scotland.
Gần đây, sau khi viết một bài báo về việc bán lại khoản đầu tư trị giá 2 triệu USD, tôi đã nhận được rất nhiều bình luận và tin nhắn riêng. Vài tháng trước, khi viết về câu chuyện lần đầu khởi nghiệp cũng như một vài chiến lược thành công, tôi nhận được ít quan tâm hơn hẳn. Điều đó khiến tôi băn khoăn rằng giữa những câu chuyện về thất bại và những mẩu chuyện thành công, mọi người quan tâm điều gì hơn?
Warren Buffett đã từng nói: "Biết học hỏi từ chính những sai lầm của bản thân là một điều tốt. Nhưng còn tốt hơn nếu bạn biết rút ra kinh nghiệm từ những thất bại của những người xung quanh."
Chính vì vậy, tôi cho rằng 7 sai lầm trầm trọng mà các công ty lớn đã mắc phải sau đây rất đáng để suy ngẫm bởi chúng ta có thể học được nhiều bài học quý giá.
1. Sai lầm của Google hay Excite?
Vào năm 1999, khi mọi người lo lắng về sự cố Y2K phá hủy hệ thống máy tính toàn cầu cũng là thời điểm mà hai công cụ tìm kiếm Excite và Google chưa được biết đến rộng rãi. Larry Page (người thành lập Google) đã đề nghị bán công ty của mình cho Excite với giá 750.000 USD. Excite đã từ chối thỏa thuận sau khi chạy một số kết quả so sánh giữa Excite và Backrub (tên ban đầu của Google) và nhận thấy rằng công cụ tìm kiếm của Backrub quá nhanh.
Page giải thích: "Nếu Excite thỏa mãn người dùng bằng cách cung cấp cho họ thông tin cần thiết ngay tức khắc, thì người dùng sẽ rời khỏi trang web ngay. Nhưng nếu người dùng ở lại thì web mới có doanh thu từ quảng cáo - "độ dính" là chỉ số mà các trang web nhắm vào tại thời điểm đó do vậy việc sử dụng công nghệ của BackRub sẽ không đem lại nhiều lợi ích."
Kết quả là, năm 2004, Ask.Com mua lại Excite với 2% thị phần, trong khi Google có giá trị hơn một nghìn tỷ USD.
Bài học:
Thay vì đuổi theo các chỉ số mà các đối thủ cạnh tranh nhắm đến, hãy đáp ứng nhu cầu của khách hàng trước tiên.
2. Kodak và phát minh khiến chính họ bị bỏ lại phía sau
Thật nực cười khi một công ty cho ra đời một sản phẩm đột phá thị trường nhưng lại quyết định không đầu tư vào sản phẩm ấy. Kodak chính là một ví dụ cho sai lầm này.
Năm 1977, Kodak đã nộp bằng sáng chế cho một trong những chiếc máy ảnh kỹ thuật số đầu tiên. Nhưng bởi lợi nhuận đến từ máy ảnh phim quá lớn nên họ quyết định tập trung hoàn toàn vào phim và máy ảnh phim. Ngay cả khi thị trường chuyển sang kỹ thuật số, Kodak vẫn kiên định gắn bó với máy ảnh phim.
"Chụp ảnh mà không cần phim ư? Ban quản trị sau khi nghe ý tưởng đó đã thốt lên rằng: "Nghe hay ho đấy - nhưng đừng nói với ai nhé."” Steve Sasson, kỹ sư Kodak, người đã phát minh ra máy ảnh kỹ thuật số thuật lại.
Cuối cùng, Kodak cũng nhận ra điều mà cả thế giới đã biết trong nhiều năm - tương lai của nhiếp ảnh thuộc về công nghệ kỹ thuật số. Tuy nhiên, họ vẫn tập trung đầu tư sai sản phẩm. Năm 1996, Kodak chi 500 triệu USD để phát triển và bán hệ thống máy ảnh và phim Advantix. Giống như một máy ảnh kỹ thuật số, Advantix cho phép người dùng xem trước ảnh chụp nhưng vẫn phụ thuộc rất nhiều vào phim để in ảnh.
Kodak không thể từ bỏ vị trí dẫn đầu trong thị trường ảnh phim nên đã gạt bỏ ý tưởng phát triển máy ảnh kỹ thuật số.
Tình hình kinh doanh không có dấu hiệu phục hồi, năm 2012, Kodak đã nộp đơn phá sản.
Bài học:
Hãy thích ứng với nhu cầu của thị trường và nghiên cứu các triển vọng dài hạn trong tương lai. Đừng như Kodak, hãy sẵn sàng cho tương lai trước khi quá muộn màng.
3. United làm vỡ cây đàn guitar và " trái tim" của các cổ đông
Năm 2008, trên chuyến bay giữa Halifax ở Canada và Omaha, United Airlines đã làm vỡ cây đàn trị giá 3.500 USD của nhạc sĩ Dave Carroll. Carroll đã rất buồn và mong mỏi một sự đền bù xứng đáng. Tuy nhiên, United, vốn kém tiếng về dịch vụ chăm sóc khách hàng của mình, đã đáp lại 9 tháng chờ đợi của nhạc sĩ Carroll bằng một lý lẽ rằng Carroll mất quá nhiều thời gian để gửi đơn khiếu nại. Họ còn viện ra nhiều lý do khác nhau để không phải nhận trách nhiệm. Điều này đã buộc nhạc sĩ Carroll sau đó phải thực hiện một sách lược chưa từng có.
Ông đã viết một bài hát có tên United Breaks Guitars và phát hành trên YouTube. Được phát hành vào ngày 6 tháng 7 năm 2009, bài hát với giai điệu hấp dẫn đã lan truyền nhanh chóng với 5 triệu lượt xem trong tháng đầu tiên. Sự kiện này đã khiến giá cổ phiếu của UAL giảm 10% - với tổng giá trị lên tới 180 triệu USD.
United Airline đã có thể đã tránh được thảm họa truyền thông và tài chính ấy nếu họ chịu đền bù một cây đàn trị giá 3500 USD
Bài học:
Lý do khiến Jeff Bezos bị ám ảnh bởi khách hàng là bởi họ nắm giữ sức mạnh kiến tạo hoặc phá vỡ một doanh nghiệp. Phương tiện truyền thông hiện nay cho phép tất cả khách hàng thể hiện sự bất mãn của mình đối với các thương hiệu. Và Carroll đã tận dụng tối đa sức mạnh ấy bằng cách viết một cuốn sách mang tên: United làm vỡ cây đàn: Sức mạnh của một tiếng nói trong kỷ nguyên của phương tiện truyền thông.

4. Một công ty có thể lụi tàn trong 10 giây như thế nào?
Gerald Ratner tiếp quản tập đoàn Ratners từ cha vào năm 1984. Trong vòng 6 năm, ông đã biến nó thành một doanh nghiệp với doanh thu hàng năm đạt 1,2 tỷ bảng Anh với hơn 2500 cửa hàng. Mặc dù không đạt chất lượng cao nhất trên thị trường nhưng các sản phẩm của ông vẫn hấp dẫn khách hàng. Công ty của ông đã thành công trong việc cung cấp các sản phẩm giá rẻ cho tầng lớp người lao động.
Khi tham gia phát biểu trước một hội nghị của Viện Giám đốc tại Hội trường Royal Albert vào ngày 23 tháng 4 năm 1991, có người đặt câu hỏi về việc vì sao công ty của ông có thể bán những sản phẩm rẻ tới vậy Ratner đã trả lời như sau:
"Mọi người thường hỏi tại sao chúng tôi có thể bán rẻ tới vậy. Đơn giản thôi, bởi vì tất cả sản phẩm đều là đồ đểu."
Ratner tiếp tục nói về những đôi bông tai mà công ty mình bán như sau:
"Thậm chí giá thành còn rẻ hơn cả một chiếc sandwich tôm của M&S và dĩ nhiên nó không thể bền."
Các phương tiện truyền thông lập tức tập trung vào phát ngôn này. Hậu quả là cổ phiếu công ty đã giảm 500 triệu bảng Anh trong vài ngày đẩy công ty tới bờ vực sụp đổ. Ratner ngay lập tức bị sa thải, và công ty cuối cùng đổi tên thành Signet Group.
Ratner đã để lại một hiện tượng trong thế giới kinh doanh - giờ đây, khi ám chỉ một công ty chao đảo vì những phát ngôn vạ miệng trước truyền thông, người ta gọi đó là "Hiệu ứng Ratner".
Bài học:
Hãy lắng nghe lời khuyên của những người hiểu rõ bạn. Sau thảm họa truyền thông, vợ Ratner chia sẻ: "Tôi hoàn toàn không ủng hộ Gerald phát biểu như vậy, nhưng anh ấy vẫn thích làm những điều mình muốn." Ratner đã hối hận vì không nghe lời khuyên của vợ và cố đưa những lời 'đùa cợt' ấy vào bài phát biểu của mình."
5. Phủ nhận phát minh điện thoại vì coi đó là một loại đồ chơi
Năm 1876 Western Union (một công ty dịch vụ tài chính và truyền thông toàn cầu của Mỹ) được tiếp thị bởi một thanh niên tên là Alexander Graham Bell. Ông đã đề nghị bán một bằng sáng chế cho một thiết bị mình tạo ra có thể truyền âm thanh của giọng nói thông qua dây dẫn. Hay còn gọi là điện thoại. Giá chào bán của Bell là 100.000 USD.
Vào thời điểm đó, Western Union là một tập đoàn khổng lồ với 7000 văn phòng điện báo trên khắp nước Mỹ và giá trị sổ sách là 55 triệu USD. Công ty thống trị thị trường truyền thông lúc bấy giờ. Có người đã thuật lại rằng, Chủ tịch của Western Union lúc ấy là William Horton, đã cười nhạo Bell rằng: "Đồ chơi điện tử này có công dụng gì đáng để công ty tôi khai thác chứ?"
Sau khi bị từ chối, Bell quyết định thành lập công ty điện thoại của riêng mình- Bell Telephone. Dù đó là một khoản đầu tư khá tốn kém nhưng Bell đã nhanh chóng chứng minh rằng phát minh của ông không phải là một món đồ chơi. Hai năm sau, Orton thừa nhận đã mắc sai lầm lớn, công nhận bằng sáng chế của Bell là một món hời trị giá 25 triệu USD. Sau đó, Orton đã thuê Thomas Edison để tinh chỉnh bằng sáng chế và đưa ra một phiên bản điện thoại khác. Bell đã đưa họ ra tòa và giành chiến thắng. Vì vậy Western Union không thể tham gia thị trường mới và mắc kẹt với điện báo.
Bell Telephone tiếp tục phát triển và sau đó đổi tên - thành AT&T.
Bài học:
Đừng mãi giữ nguyên hiện trạng. Khi công nghệ phát triển, sản phẩm cũng cần được nâng cấp.
6. Decca Records và lựa chọn sai lầm
Vào đầu năm 1962, bốn nhạc sĩ trẻ từ Liverpool đã thu âm 15 bài hát cho một buổi thử giọng. Họ đã giao bản ghi âm ấy cho Decca Records.
Người đứng đầu Decca, Dick Rowe, băn khoăn giữa các nghệ sĩ Liverpool và một ban nhạc địa phương Brian Poole và The Tremeloes.
Dick nhớ lại: "Cả hai đều xuất sắc, nhưng một bên là nhóm địa phương, bên còn lại đến từ Liverpool. Chúng tôi nghĩ rằng chọn nhóm địa phương sẽ có lợi hơn vì có thể dễ dàng làm việc và giữ liên lạc khi họ ở ngay Dagenham."
Rowe và Decca không hề biết rằng đã từ chối một ban nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại - The Beatles. Decca đã bỏ lỡ hàng trăm triệu USD khi từ chối ban nhạc ấy.
May mắn thay, câu chuyện này có một kết thúc có hậu. Năm 1963, khi người hâm mộ The Beatles càn quét khắp thế giới, George Harrison cảm thấy tiếc cho Decca nên đã đề nghị họ ký hợp đồng với một ban nhạc trẻ khác mà Harrison thấy triển vọng. Lần này Rowe đã không chọn một ban nhạc địa phương mà ký hợp đồng với một nhóm nhạc mà sau này nổi tiếng khắp thế giới với cái tên Rolling Stones.
Bài học:
Các quyết định không nên dựa vào vị trí địa lý, đặc biệt là trong nền kinh tế toàn cầu. Ngay cả khi không thể thực hiện được thỏa thuận với đối tác, hãy cố gắng duy trì các mối quan hệ với họ như cách Decca duy trì liên lạc với Harrison để có được hợp đồng với Rolling Stones.
7. Bạn cần trở thành một nhà khoa học tên lửa để chế tạo ra tên lửa
Bài viết này sẽ kết thúc với một ví dụ cho thấy rằng ngay cả những người thông minh nhất cũng có thể mắc những sai lầm ngớ ngẩn nhất.
Năm 1999, NASA đã đánh mất một tàu quỹ đạo sao Hỏa trong không gian do một lỗi toán học cơ bản. Các kỹ sư tại Lockheed Martin khi tính toán đã chế tạo tên lửa sử dụng hệ đơn vị Anh trong khi nhóm NASA sử dụng các phép đo hệ mét. Sự khác biệt này đã khiến cho tàu thăm dò bị trục trặc và đi chệch hướng sau đó mất luôn dấu vết. Sai lầm này đã ngốn 125 triệu USD cho chiếc tàu hiện chưa rõ nằm ở đâu trong không gian và có thể đang được sử dụng bởi người ngoài hành tinh.
Bài học:
Khi làm việc trong môi trường quốc tế, hãy đảm bảo việc giao tiếp được rõ ràng và cả nhóm cùng tuân theo một quy trình thống nhất.
Những công ty trên đã trả hàng triệu USD cho những bài học mà chúng ta đang đọc một cách miễn phí. Từ những thất bại của họ, tôi hy vọng chúng ta có thể sớm đến với thành công.


Nguồn: Mộc Dương, cafebiz.vn. Theo ENT

Chỉ số Môi trường Kinh doanh (BCI) mới nhất của EuroCham ghi nhận ở mức cao nhất kể từ thời điểm bùng phát đại dịch.

Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) vừa công bố kết quả BCI quý IV/2020 với kểt quả cao khi đạt 63,6 điểm, tăng 6 điểm so với quý liền trước. Tổng cộng, chỉ số này đã tăng 37 điểm kể từ năm ngoái, sau khi ghi nhận mức điểm thấp kỷ lục trong quý I/2020, với sự bùng phát lần đầu của Covid-19.

BCI là thước đo hàng quý, được sử dụng bởi các thành viên EuroCham để đánh giá về môi trường kinh doanh. Điều tra thực địa và thu thập dữ liệu cho BCI do YouGov Việt Nam thực hiện. Chỉ số trên 50 phản ánh tâm lý tích cực.

Diễn biến BCI từ năm 2010 đến 2020. Đồ họa: EuroCham.

Một phần ba thành viên EuroCham dự đoán số lượng nhân viên của họ sẽ tăng lên trong quý tiếp theo, và 57% sẽ duy trì mức tương tự. Trong khi đó, 30% người tham gia khảo sát dự đoán đầu tư sẽ phát triển và 43% dự đoán các đơn đặt hàng và doanh thu sẽ tăng trưởng.

Với việc EVFTA đã đi vào hiệu lực, 70% nói rằng doanh nghiệp của họ đã được hưởng lợi. Tuy nhiên, 33% cũng cho rằng "thủ tục hành chính" sẽ là thách thức chính để các doanh nghiệp tối ưu Hiệp định.

Chủ tịch EuroCham Nicolas Audier cho biết thông tin BCI mới nhất là một bức tranh tích cực về môi trường kinh doanh của Việt Nam và định hướng triển vọng năm 2021. "Niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào nền kinh tế ngày càng được củng cố trong một năm qua là minh chứng cho việc chính phủ Việt Nam xử lý thành công đại dịch và hợp tác xúc tiến EVFTA, tạo ra một nền tảng cho tăng trưởng kinh tế - xã hội 5 năm tới của Việt Nam", ông nhận định.

Theo ông Thue Quist Thomasen, Giám đốc điều hành YouGov Việt Nam, cho rằng, các doanh nghiệp châu Âu có niềm tin ngày càng tăng vào môi trường thương mại và đầu tư của Việt Nam, trái ngược với tình hình ở các nơi khác trên thế giới.

Cụ thể, khi được hỏi về triển vọng kinh tế Việt Nam trong quý I/2021, 57% thành viên EuroCham tham gia khảo sát dự đoán sự "ổn định và cải thiện" sẽ được duy trì. So với 39% trong quý III/2020, sự tự tin về triển vọng kinh tế tăng cao. "Dữ liệu của chúng tôi cho thấy sự tự tin về tiềm năng phát triển kinh tế Việt Nam đang có đà tăng trưởng trên diện rộng", ông Thue Quist Thomasen nhận xét.

Nguồn: vnexpress.net

Jeff Bezos xuất hiện xuyên suốt và khôn ngoan. Mark Zuckerberg được biết đến với tính cách nghiêm túc và sẵn sàng đổi mới bản thân. Steve Jobs…

Nếu cứ mãi xuất khẩu vào những thị trường dễ tính thì chúng ta lại tiếp tục nhập siêu… Đến bao giờ doanh nghiệp mới lớn và trưởng thành được?...

P3 auto x2 auto x2

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Ấu có hiệu lực từ ngày 1/8/2020

Đó là chia sẻ của bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế khi đưa ra những giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt được những cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do.

THÔNG TIN CẦN ĐÚNG VÀ TRÚNG

Khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, 45% doanh nghiệp đã từng có lô hàng không được hưởng lợi do không biết đến cam kết của Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Điều này một lần nữa cho thấy các nỗ lực phổ biến tuyên truyền về cơ hội và cam kết Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương còn cần phải thực hiện mạnh hơn, đi vào cụ thể, thực chất và theo mối quan tâm của từng nhóm doanh nghiệp.

Để doanh nghiệp tiếp nhận thông tin về các Hiệp định thương mại tự do trúng và đúng, bà Phạm Chi Lan cho rằng, chúng ta cần đưa ra những thông tin một cách đúng mực, tránh chuyện khi có cái mới thì ào ào đưa theo và quên đi cái cũ. Đơn cử như tháng 8 năm ngoái, tất cả đều nói về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – châu Âu như là số một với Việt Nam, khiến mọi người quên Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương.

Đến khi có Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực thì cổ động nhiều cho hiệp định này và cổ vũ đây là thị trường tương đối dễ tính, dễ hơn cho doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập. Trong khi chúng ta tham gia 2 hiệp định khó tính là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu với quyết tâm, khát vọng rất lớn để vươn lên nhằm tự thay đổi mình, nâng chuẩn, nâng cấp mình lên, nhưng lại đi khuyến khích làm với thị trường dễ tính.

"Dễ tính đến bao giờ nữa? Nếu cứ dễ tính mãi lại quay trở lại vị trí ban đầu, tiếp tục nhập siêu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN… Nếu cứ dễ tính mãi thế thì đến bao giờ chúng ta lớn, trưởng thành được."

Chúng ta cần xây dựng danh tiếng mới cho hàng hoá Việt Nam. Cần có chuẩn chung áp dụng cho cả thị trường trong nước và nước ngoài. 100 triệu người Việt Nam là một thị trường lớn ở trong nước. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào đây là vì thị trường rất lớn của Việt Nam.

Cứ nhìn tốc độ thâm nhập của các chuỗi phân phối bán lẻ của Thái Lan, Hàn Quốc mới thấy họ đánh giá thị trường nội địa Việt Nam lớn như thế nào. Còn nếu cứ để hàng Việt Nam ở chuẩn thấp và chỉ thích xuất khẩu sang những thị trường dễ tính thì Việt Nam muôn đời chỉ là nơi sản xuất hàng giá rẻ, chất lượng thấp kể cả cho người Việt Nam lẫn thị trường xuất khẩu.

Ngoài ra, bà Lan cho rằng, khi tuyên truyền về các thị trường có Hiệp định thương mại tự do, chúng ta hay nói về dung lượng thị trường của họ lớn. Tự hào tham gia vào một khu vực lớn nhất thế giới là Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực nhưng chúng ta cũng cần xem thực lực mình đáp ứng được bao nhiêu, thâm nhập được bao nhiêu. Đôi khi, một thị trường nhỏ nhưng lại có giá trị lớn hơn những thị trường lớn khác cộng lại với từng doanh nghiệp, từng ngành hàng.

Kể cả với xuất khẩu, chúng ta phải thấy được thành tích xuất khẩu đó thuộc về mình rất ít, doanh nghiệp Việt Nam hưởng lợi không nhiều. Nếu muốn trở thành cường quốc trong những năm tới, không thể dựa trên người nước ngoài hoàn toàn mà phải dựa trên chính bản thân mình.

"Vì thế cơ quan quản lý nhà nước cần thay đổi cách thông tin của mình. Chú trọng, nâng cao nội lực hơn nữa, như tăng cường năng lực sản xuất trong nước, coi trọng thị trường trong nước, coi trọng doanh nghiệp Việt", bà Lan lưu ý.

TẬN DỤNG CƠ HỘI ĐỂ VƯƠN LÊN

Theo bà Lan, sự "khấp khểnh" về môi trường kinh doanh trong nước, chậm được cải thiện vẫn đè lên các doanh nghiệp nội nhiều hơn là doanh nghiệp nước ngoài. Trong khi doanh nghiệp nước ngoài, ngoài việc họ có công cụ pháp lý và những cam kết quốc tế mạnh mẽ của chính phủ Việt Nam thì họ còn có chính phủ, sứ quán, cộng đồng luật sư của họ bảo vệ họ. Còn doanh nghiệp Việt Nam vẫn "cô đơn".

Vị chuyên gia này cho rằng chúng ta đang trong cơ hội tuyệt vời để tham gia chuỗi cung ứng, hội nhập quốc tế. Covid làm thức tỉnh cả thế giới, bản thân Việt Nam khao khát từ lâu về phát triển công nghiệp hỗ trợ nhưng khi các đối tác bên ngoài chưa hưởng ứng nên mình không làm được.

Nhưng bây giờ, trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Nhật Bản khuyến khích các doanh nghiệp Nhật trở về Nhật hoặc đầu tư sang các nước khác. Australia và nhiều nước khác trong khu vực Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu cũng đang tìm kiếm cơ hội tương tự như vậy.

"Bây giờ là lúc mình có cầu về chuỗi cung ứng mới, nước ngoài họ có nguồn lực… đây là cơ hội tuyệt vời để Việt Nam tận dụng vượt lên

Một cơ hội nữa là công nghệ, sức ép ứng dụng của công nghệ chưa bao giờ lớn như bây giờ. Vì vậy, hỗ trợ của Nhà nước cần chuyển mạnh sang hỗ trợ hai khía cạnh này để tham gia chuỗi cung ứng mới, nâng cao vị thế, giá trị gia tăng của Việt Nam trong các sản phẩm. Đồng thời, nâng cao trình độ công nghệ trong đó trình độ quản trị, con người.

Để biến những cơ hội này thành hiện thực, theo bà Phạm Chi Lan, nhà nước cần thay đổi cách tiếp cận hỗ trợ. Nếu hỗ trợ theo cách cũ sẽ không phù hợp với thời cơ mới. Chúng ta cần có doanh nghiệp tầm trung lớn mạnh. Sự thiếu vắng doanh nghiệp tầm trung lâu nay là thiệt thòi quá lớn với Việt Nam. Vì công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi nhiều ở doanh nghiệp quy mô tầm trung. Chỉ những doanh nghiệp ấy mới kết nối được với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

VŨ KHUÊ

Theo VnEconomy

Tất cả các bạn sinh viên đều mơ ước có một công việc ổn định với mức lương cao ngay khi vừa mới ra trường. Tại sao các bạn không nghĩ đến công việc Thư ký, trợ lý ? Bạn cho rằng đó là một công việc không có tiềm năng. Vậy thì bạn nhầm rồi nhé, với vị trí là cánh tay phải của các sếp, trợ lý, thư ký luôn là người rất có tiềm năng thăng tiến nếu bạn thực sự có thực lực. Hãy theo dõi bài viết dưới đây thật kĩ để tìm hiểu các lý do bạn nên lựa chọn trở thành một thư ký, trợ lý nhé!

P12

1.Tiếp xúc với nhiều công việc khác nhau

Trở thành một người thư ký, trợ lý, bạn không chỉ cần có các kỹ năng cơ bản như kỹ năng tin học văn phòng, kỹ năng giao tiếp, nhận điện thoại, sắp xếp lịch hội họp,…Mà bạn còn cần rất nhiều kỹ năng khác: từ đối nội (quản lý nhân sự, tổ chức sự kiện cho công ty, tổng hợp và làm báo cáo thông tin từ các phòng ban…), tới đối ngoại (thương lượng với khách hàng, quản lý các thủ tục hành chính,…) Vì thế, ở vị trí thư ký, trợ lý, bạn sẽ được tiếp xúc với rất nhiều công việc trong các lĩnh vực khác nhau như kế toán, tài chính, nhân sự, quản trị,…Điều này sẽ giúp bạn có nhiều trải nghiệm công việc khác nhau, tích lũy kinh nghiệm.

Là cánh tay phải của giám đốc, bạn chính là người “dưới một người, trên vạn người” trong công ty. Bạn sẽ nhanh chóng được mọi người biết đến. Bạn có quyền sắp xếp các cuộc hẹn cho giám đốc, thậm chí có quyền quyếtđịnh ai có thể gặp sếp của bạn trước, còn ai thì phải chờ. Bạn sẽ nắm giữ rất nhiều mối liên hệ vì luôn đồng hành cùng sếp trong các cuộc họp với đối tác, khách hàng, đi công tác,… Nắm giữ càng nhiều mối quan hệ, bạn sẽ càng có nhiều cơ hội hơn trong con đường sự nghiệp của mình.

2. Nắm giữ mối quan hệ rộng

Là cánh tay phải của sếp, bạn chính là người “ dưới một người, trên vạn người” trong công ty. Bạn sẽ nhanh chóng được mọi người biết đến. Bạn có quyền sắp xếp các cuộc hẹn cho giám đốc, thậm chí có quyền quyết định ai có thể gặp sếp của bạn trước, còn ai thì phải chờ. Bạn sẽ nắm giữ rất nhiều mối liên hệ vì đi luôn đồng hành cùng sếp trong các cuộc gặp mặt, thương lượng với đối tác, khách hàng, đi công tác,… Nắm giữ càng nhiều mối quan hệ, bạn sẽ càng có nhiều cơ hội hơn trong con đường nghề nghiệp của mình.

3. Cơ hội thăng tiến rộng mở

Làm công việc thư ký, trợ lý, hằng ngày bạn luôn phải theo dõi, giám sát và nắm toàn bộ tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Hơn nữa, người thư ký, trợ lý luôn đồng hành với sếp trong công việc quản lý, được học hỏi từ sếp. Với những kiến thức chuyên môn và kỹ năng làm việc học được từ vị trí thư ký, trợ lý, bạn luôn sẵn sàng làm việc ở nhiều vị trí khác trong doanh nghiệp. Đây cũng chính là cơ hội, là con đường để bạn thăng tiến nhanh hơn trong công việc. Rất nhiều nhà quản lý cấp cao đã đi lên từ chính vị trí thư ký, trợ lý cho các giám đốc lớn.

4. Học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ sếp

Làm việc ở vị trí thư ký, trợ lý, bạn sẽ có cơ hội học hỏi từ sếp rất nhiều kiến thức quản lý, kỹ năng làm việc, được rèn luyện tư duy, phong cách quản lý doanh nghiệp,….Những kinh nghiệm, kiến thức bạn học được trong quãng thời gian đảm nhiệm vị trí thư ký, trợ lý chắc chắn sẽ giúp ích rất nhiều cho bạn trong sự nghiệp.

5. Mức lương hấp dẫn

Hiện nay, các doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng thư ký, trợ lý rất cao. Họ sẵn sàng đưa ra mức lương hấp dẫn để thu hút những người có năng lực làm việc và chuyên môn tốt. Mức lương cho một thư ký, trợ lý khi mới vào nghề khoảng từ 7 – 10 triệu, đó là chưa kể các chế độ đãi ngộ khác như bảo hiểm, nghỉ lễ, các khoản thưởng hàng kì hàng tháng cũng rất cao. Bởi vậy có thể khẳng định thu nhập của một thư ký, trợ lý có năng lực không dưới 15 triệu/tháng. Mức thu nhập này còn có thể tiếp tục tăng lên theo thâm niên làm việc.

Những lý do trên đã đủ để thuyết phục bạn đến với nghề thư ký, trợ lý chưa? Hãy đến với khóa học Đào tạo thư ký, trợ lý giám đốc của chúng tôi để được học những kỹ năng cần thiết để trở thành một trợ lý, thư lý chuyên nghiệp.

Xem thêm: Khóa Đào tạo Thư ký trợ lý giám đốc chuyên nghiệp.

Như Vinasun hay Mai Linh, thời kỳ hoàng kim lãi lớn và chủ công ty không chịu chuyển đổi số. Lúc bấy giờ, các vị trả lời rằng khi chúng tôi đang tăng trưởng thì cần thiết gì phải chuyển đổi số. "Tuy nhiên, đó là sai lầm của chủ doanh nghiệp và hôm nay họ phải trả giá", đại diện DR SME thẳng thắn bày tỏ quan điểm.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, với mục tiêu trong 10 năm tới Việt Nam sẽ thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ Điện tử, Kinh tế số đóng góp 30% GDP, năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 8%.

P8

Theo đó, chuyển đổi số không còn là thuật ngữ mang tính tiên phong, mà là bắt buộc trong thời kỳ mới. Là đơn vị tư vấn tái cấu trúc, chuyển đổi số doanh nghiệp, Phó tổng Giám đốc DR SME – ông Vũ Tuấn Anh – nhận định: "Hình như chủ doanh nghiệp còn chậm trễ với chuyển đổi số. Bản thân chủ doanh nghiệp thực tế dùng công nghệ số nhiều nhất, thông qua các dịch vụ sản phẩm của đối tác khách hàng. Nhưng, bản thân người chủ doanh nghiệp tôi tiếp xúc thường lại ngại chuyển đổi số nhanh".

Như Vinasun hay Mai Linh, thời kỳ hoàng kim lãi lớn và chủ công ty không chịu chuyển đổi số. Lúc bấy giờ, các vị trả lời rằng khi chúng tôi đang tăng trưởng thì cần thiết gì phải chuyển đổi số. "Tuy nhiên, đó là sai lầm của chủ doanh nghiệp và hôm nay họ phải trả giá", đại diện DR SME thẳng thắn bày tỏ quan điểm.

Thực tế đã chứng minh, chuyển đổi số với doanh nghiệp tổ chức không còn là thích hay không thích, cần hay không cần, nên hay không nên mà đó là bắt buộc vì chuyển đổi số là xu hướng dòng chảy của kinh doanh toàn cầu. Chúng ta chỉ có thể đi ngược dòng chảy trong một khoảng thời gian trong một khu vực trong một hoàn cảnh chứ không thể đi ngược lại xu hướng trong cả hành trình doanh nghiệp.

Nói về mục tiêu của Chính phủ, vị này kỳ vọng phải cố gắng trước năm 2025 đã thực hiện xong nhiệm vụ của năm 2020. Vì sao cần đẩy nhanh tiến độ, vì chuyển đổi số hiện liên quan mật thiết để chủ quyền số, bên cạnh chủ quyền quan trọng bậc nhất là biên giới lãnh thổ. "Thời đại này là thời đại chủ quyền số, tức dữ liệu công nghệ của chúng ta chính chúng ta phải kiểm soát được. Với Việt Nam, nền tảng số ‘Made in Việt Nam’ hiện cực kỳ quan trọng, để trong bất kỳ trường hợp nào thì chúng ta cũng xử lý được, nếu đặt bên ngoài quốc gia thì cực kỳ rủi ro", ông Anh nói.

P9

Trên vai trò doanh nghiệp tham gia chuyển đổi số, ông Ngô Minh Đức – Chủ tịch HĐQT Gotadi khẳng định: "Ngày nay, chuyển đổi số không chỉ là xu hướng mà là yêu cầu tất yếu của tất cả các doanh nghiệp muốn nâng cao hiệu quả vận hành, nâng cao trải nghiệm, tạo ra các giá trị mới nhằm tăng cường sự hài lòng của khách hàng cũng như tạo được lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Đại dịch Covid-19 chính là một cú hích thúc đẩy quá trình này vì doanh nghiệp thấy được những nguy cơ, thất bại nên phải hành động ngay".

Chia sẻ câu chuyện của Gotadi, một công ty con trong Tập đoàn HG ra đời năm 2014 trong bối cảnh nhiều đại lý du lịch trên mạng (OTA – Online Travel Agency) đã và đang xuất hiện đồng loạt ở Việt Nam, ông Ngô Minh Đức cho hay, tại thời điểm này, Gotadi đã đi những bước đầu tiên trong quá trình chuyển đổi số, với quyết tâm sánh vai cùng các OTA trong và ngoài nước để cung cấp những dịch vụ du lịch toàn diện và trực tuyến chỉ trên duy nhất một trang mạng.

Vào thời điểm năm 2014, chưa có công ty công nghệ nào tại Việt Nam đủ sức để xây dựng một hệ thống đặt giữ chỗ trực tuyến. Sau khi tìm hiểu, Gotadi quyết định sử dụng công nghệ của một công ty Ấn Độ làm nền tảng để xây dựng trang mạng này. Tuy nhiên, qua quá trình hoạt đông, đội ngũ Gotadi nhận ra, không làm chủ được công nghệ sẽ rất khó vận hành hệ thống cũng như cải tiến nhanh và liên tục cho người dùng. Chính vì vậy, đến năm 2016, Gotadi đã xây dựng riêng cho mình một đội ngũ kỹ sư công nghệ đủ mạnh để xây dựng hệ thống đặt giữ chỗ và các phần mềm liên quan, chủ động trong việc kết nối cũng như hoàn thiện sản phẩm.

"Để chuyển đổi số thành công, mỗi doanh nghiệp cần đi từng bước nhỏ, sao cho phù hợp với quy mô và hoạt động của mình nhất và đặc biệt, chuyển đổi số cần xuất phát từ nhận thức phải thay đổi của chủ doanh nghiệp cũng như toàn bộ nhân viên" – Ông Ngô Minh Đức nhấn mạnh.

Nhìn chung, trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số sẽ không còn là một lựa chọn, mà là vấn đề sống còn với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ cần xem việc chuyển đổi số vừa là thách thức nhưng cũng vừa là cơ hội cần tận dụng để nâng cao vị thế của mình. Chính vì vậy, chuyển đổi số sẽ không phải là cuộc chạy đua nước rút, mà là một quá trình dài hơi cần có chiến lược đúng và sức bền để có thể đi đến thành công.

 

Bảo An

Theo Tạp chí Doanh nghiệp và Tiếp thị

P39

CẢI TỔ DOANH NGHIỆP TRONG THỜI ĐẠI SỐ

Đánh giá: 5/5

“Cải tố doanh nghiệp trong thời đại số” là cuốn sách đầu tiên chỉ ra cách tiếp cận để chuyển đổi các doanh nghiệp truyền thống, thành lập từ trước thời kỳ phát triển của Internet.

Dựa trên một thập kỷ nghiên cứu và giảng dạy tại Trường kinh doanh Columbia, cũng như kinh nghiệm tư vấn cho nhiều doanh nghiệp trên thế giới, tác giả David L Rogers đã trình bày những cách thức mà các doanh nghiệp có xuất phát điểm từ giai đoạn trước thời đại số có thể chuyển đổi, tái tạo các kế hoạch và chiến lược của họ, từ đó tận dụng được những cơ hội mới trong thế giới kỹ thuật số ngày nay.

Có thể xem đây là một cẩm nang không thể bỏ qua của các nhà lãnh đạo đang có mong muốn đưa tổ chức của mình tiến lên một giai đoạn tăng trưởng có lợi nhuận tiếp theo.

Thêm vào đó, TS. Phạm Anh Tuấn, dịch giả cuốn sách “Cải tổ doanh nghiệp trong thời đại số”, là diễn giả trong Hội thảo ngày 31/03 tới do Viện Kinh tế và Thương mại quốc tế (iEIT), Công ty Wicom đồng tổ chức: “CHUYỂN ĐỔI SỐ DOANH NGHIỆP TRUYỀN THỐNG- LỘ TRÌNH VÀ KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG”. Hãy tham dự hội thảo để có cơ hội giao lưu với các diễn giả là những chuyên gia hàng đầu về tư vấn chiến lược cho doanh nghiệp.

VIỆT NAM THỜI CHUYỂN ĐỔI SỐ

Đánh giá: 5/5

Việt Nam cần phải làm gì để không bỏ lỡ cơ hội phát triển như với các cuộc cách mạng công nghiệp trước và vững vàng tiến bước cùng thời đại, trở thành một quốc gia hùng cường?

Việt Nam cần phải làm gì để thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ số trọng tâm là trí tuệ nhân tạo?

Hướng đi nào là an toàn và bền vững nhất để phát triển hạ tầng số thông minh, phát triển nền kinh tế số và xây dựng đô thị thông minh?

Việt Nam cần cải cách thể chế nhà nước như thế nào để chuyển đổi số có hiệu quả?

Cuốn sách Việt Nam thời chuyển đổi số là những chia sẻ của nhóm THINK TANK VINASA trên con đường đi tìm lời giải cho những câu hỏi cấp bách này, với tâm huyết nhằm khơi dậy và lan tỏa niềm tự hào dân tộc, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh.

CỖ MÁY TRI GIÁC

Đánh giá: 4.5/5

Trí thông minh nhân tạo đang đóng một vai trò lớn hơn bao giờ hết trong xã hội ngày nay. Các cuộc thảo luận về AI là một sự phân cực tuyệt đối, một bên cho rằng các loại máy móc sẽ giải quyết mọi vấn đề cho con người, một bên lại nghĩ đám máy móc sẽ dẫn dắt xã hội vào một con đường tối tăm, đáng sợ.

Trong cuốn sách Cỗ máy tri giác, Amir Husain sẽ chuẩn bị cho chúng ta một tương lai tươi sáng hơn, không cường điệu về đúng hay sai, mà chỉ còn cơ hội và rủi ro. Ông sẽ đặt ra những câu hỏi về kỷ nguyên của trí thông minh nhân tạo:

Tại sao chúng ta lại có giá trị?

Chúng ta có thể tạo nên điều gì trong thế giới này?

Chúng ta thông minh như thế nào?

Điều gì tạo nên sự tiến bộ cho chúng ta?

Và chúng ta có thể thất bại trong việc phát triển ra sao?

Hussain sẽ biến những ý tưởng phức tạp về khoa học máy tính và trí thông minh nhân tạo trở nên đơn giản và rõ ràng qua từng trang sách.

Chiều ngày 31/03/2021, Viện Kinh tế và Thương mại quốc tế đã tổ chức thành công hội thảo "Chuyển đổi số doanh nghiệp truyền thống - lộ trình…
Vụ kênh đào Suez mọi người đều quên rằng nạn nhân khổ nhất là các công ty bảo hiểm. Tờ Bloomberg đánh giá rằng nhiều khả năng có…
Tạp chí vận tải nổi tiếng Lloyd’s List ước tính, tình trạng đình trệ giao thông tại kênh đào Suez của Ai Cập làm hơn 9 tỷ USD…

Covid-19 đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ cửa hàng truyền thống sang kinh doanh online nhanh hơn 5 năm, buộc các doanh nghiệp phải đẩy tối ưu hóa các chiến lược kinh doanh trực tuyến họ để tồn tại và phát triển.

P25

Theo báo cáo của Nielsen, 63% người tiêu dùng được hỏi sẽ vẫn giữ thói quen mua sắm online sau dịch COVID-19. Khách hàng ở đâu, người bán hàng ở đó. Trong tương lai, những doanh nghiệp không thể thích ứng với việc bán hàng trực tuyến chắc chắn sẽ bị đào thải.

Chi tiêu cho các kênh online tăng cao

Ngân hàng Thế giới ước tính đại dịch COVID-19 khiến 195 triệu người mất việc làm trên toàn thế giới và các thay đổi công nghệ có thể thay thế 85 triệu việc làm trong 5 năm tới. Trong bối cảnh chi tiêu của người dân tại cửa hàng truyền thống giảm mạnh ở hầu hết các ngành, mức chi tiêu trên các nền tảng online và các thương mại điện tử lại cho thấy nhiều tín hiệu khả quan. Theo số liệu hằng quý do Bộ Thương mại Mỹ công bố mới đây, doanh số từ các kênh trực tuyến của Mỹ đã tăng hơn 30% trong khoảng thời gian từ quý II đến III-2020,

Ngày lễ Độc thân vừa qua, doanh thu của Alibaba lên tới hơn 74 tỷ đô la, gần gấp đôi so với kỷ lục của cùng kì năm ngoái, cho thấy nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phục hồi trở lại trước đại dịch nhờ vào các kênh bán hàng trực tuyến. Mức doanh thu kỷ lục này được xác lập một phần lớn là nhờ chức năng livestream với 583.000 đơn đặt hàng mỗi giây

Trong một khảo sát được thực hiện mới đây của của Nielsen Việt Nam và Infocus Mekong Mobile Panel, 25% số người được hỏi cho biết đã tăng cường mua sắm online và giảm các hoạt động mua sắm trực tiếp. Xu hướng này khiến số đơn hàng tại các sàn thương mại điện tử (TMĐT) như Shopee, Tiki, Lazada… tăng mạnh. Đơn cử như Tiki, gần đây, có thời điểm phát sinh 3.000 – 4.000 đơn hàng/phút, nhiều mặt hàng phải nhập kho liên tục. Trong đó, số lượng khẩu trang bán ra đã tăng tám lần, nước rửa tay tăng hơn 10 lần.

Với diễn biến phức tạp của dịch bệnh trong những ngày đầu năm 2021, hạn chế tiếp xúc và giãn cách xã hội có khả năng sẽ tiếp tục trong tương lai gần, các doanh nghiệp không chỉ phải hạn chế hoạt động offline tại các cửa hàng truyền thống và mà bắt buộc phải giới hạn số lượng nhân viên trong một cửa hàng. Chính vì vậy, các ứng dụng công nghệ trên các kênh online sẽ giúp các thương hiệu tăng hiệu quả tương tác với khách hàng mà vẫn đảm bảo giãn cách, cắt giảm nhân sự.

Trên thực tế, rất nhiều công ty đã chuyển dịch sang các kênh kinh doanh trực tuyến từ trước khi dịch COVID-19 bùng phát và đã gặt hái được nhiều lợi ích và trường hợp của Nike là một ví dụ điển hình.

Chiến lược “go online” của Nike là một sự đầu tư bài bản, dài hơi, không chỉ là xây dựng một website bán hàng hay một ứng dụng bán giày. Đội ngũ của Nike đã xây dựng hẳn một hệ sinh thái mua sắm trực tuyến, đem lại trải nghiệm hoàn toàn khác biệt cho khách hàng. “Tầm nhìn của chúng tôi là xây dựng một mối liên kết trực tiếp, bền chắc với khách hàng qua các kênh trực tuyến.. Phương tiện thường thấy nhất cho việc kết nối này là những chiếc smartphone ai cũng mang theo”, CFO Andy Campion của Nike cho biết.

Thay vì chỉ bán qua những nhà phân phối độc quyền, Nike tương tác trực tiếp với người tiêu dùng qua website hoặc hợp tác với những công ty thương mại điện tử như Amazon, Alibaba Đặc biệt, doanh thu từ thương mại điện tử của Nike tăng đến 38% trong tháng 11/2020, mức tăng vượt trội so với tất cả các mảng trong kỳ mua sắm sát lễ Giáng sinh. Doanh số online của Nike tại Bắc Mỹ tăng tới hơn 70% trong dịp “Ngày thứ 6 đen tối” (Black Friday). Số lượng thành viên của Nike cũng tăng 45% so với cùng kỳ năm trước.

Kinh doanh trực tuyến – Vũ khí cho tương lai

Với các công cụ Marketing và bán hàng online, việc doanh nghiệp có thành công khi kinh doanh trực tuyến hay không phụ thuộc vào chiến lược, sự quyết tâm và khả năng tận dụng các công cụ này một cách nhanh chóng, hiệu quả với khách hàng là trung tâm.

P26

Doanh nghiệp cần hiểu rõ các nền tảng kinh doanh online cùng với những thay đổi trong hành vi mua hàng của người tiêu dùng nếu họ muốn đứng vững trước những thay đổi bất thường mà đại dịch Covid-19 là một ví dụ điển hình. Thay vào chỉ phụ thuộc vào các kênh thương mại điện tử hay chạy theo xu hướng bán hàng trực tuyến như một trào lưu, các doanh nghiệp cần có chiến lược lâu dài, tự dưng dựng các hệ thống chuyển đổi số phù hợp, bền vững.

Diễn biến khó lường của Covid-19 là một phép thử cũng như một hồi chuông thức tỉnh, đây là thời điểm quan trọng buộc các doanh nghiệp chuẩn bị sẵn sàng để luôn đứng vững. Tuy nhiên không phải trong tâm thế đóng cửa ngủ đông chờ dịch qua như trước đó mà là chủ động “sống chung với lũ”, trang bị cho mình các giải pháp để xây dựng các kênh kinh doanh trực tuyến thật “xịn” để sống khỏe ngay trong tâm bão hay khi bão tan:

Website – Cửa hàng số độc lập: Nơi khách hàng online có thể dễ dàng tìm kiếm và mua sắm bất cứ sản phẩm/dịch vụ nào mọi lúc mọi nơi bất chấp những rào cản vật lý về lệnh giãn cách và cách ly xã hội có thể xảy ra một lần nữa.

Chatbot – Nhân viên “ảo” đa năng, tận tụy 24: Đảm bảo việc tư vấn chốt đơn luôn được tiến hành 24/7, ngay cả khi thiếu hụt hoặc tinh giản nhân sự nếu dịch bùng phát trở lại.

CRM – quản lý đa kênh: Hỗ trợ doanh nghiệp xử lý mọi công việc: Bảo mật và lưu trữ data khách hàng; Tự động phân việc cho nhân viên; Theo dõi và đánh giá kết quả làm việc từ xa của nhân viên nếu diễn ra tình trạng làm việc online tại nhà.

Kinh doanh trực tuyến – Doanh nghiệp của bạn đã sẵn sàng cho một tương lai đột phá.

Một chuyên gia kinh doanh từ Đại học RMIT đã cảnh báo rằng giữa những gián đoạn đang diễn ra do COVID-19, quá trình chuyển đổi số chậm có thể đe dọa nhiều doanh nghiệp Việt khiến họ bị phá sản trong tương lai.

P28

Tiến sĩ Nguyễn Quang Trung, Chủ nhiệm nhóm bộ môn Quản trị thuộc Khoa Kinh doanh và Quản trị đồng thời là Chủ nhiệm nghiên cứu về quản trị chuyển đổi thông minh tại Đại học RMIT, cho biết đại dịch có thể buộc doanh nghiệp Việt Nam phải suy nghĩ lại và nhanh chóng áp dụng công nghệ kỹ thuật số để thăng hoa trong tương lai.

* Doanh nghiệp Việt cần cân nhắc những mảng nào là trọng tâm chính của chuyển đổi số trong giai đoạn đầy thách thức này?

Chuyển đổi số đối với doanh nghiệp là điều hết sức quan trọng mang tính sống còn trong giai đoạn hiện nay cũng như thời gian tới, đặc biệt với việc hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế mở của đất nước.

Chúng ta đang sống trong thế giới thay đổi nhanh chóng và buộc doanh nghiệp phải chuyển đổi số để đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng thay đổi từ khách hàng, nhân viên, đối thủ cạnh tranh, cổ đông và các bên liên quan khác.

Chuyển đổi số trong doanh nghiệp thường diễn ra theo hai hình thức chính gồm ứng dụng công nghệ số vào mô hình kinh doanh hiện tại (chẳng hạn để tăng trải nghiệm khách hàng từ khâu ra quyết định mua hàng cho đến hậu mãi), hoặc thay đổi hoàn toàn mô hình hoạt động và cấu trúc (ví dụ như thay đổi mô hình doanh thu dựa trên công nghệ số mới và dữ liệu lớn).

P27

* Theo ông, những doanh nghiệp nào đang đi tiên phong trong chuyển đổi số tại Việt Nam?

Có thể cần có thêm thời gian để xác định những công ty đi đầu trong chuyển đổi số tại Việt Nam vì nhu cầu này mới trở nên cấp thiết với đất nước trong giai đoạn gần đây.

Dù chuyển đổi số đã có mặt hơn 10 năm, phần lớn chuyển đổi số ở doanh nghiệp trong nước và quốc tế đều dựa trên các giải pháp tình huống.

Nghiên cứu mới đây chúng tôi hợp tác cùng thực hiện với KPMG cho thấy doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân lớn đang chuyển đổi số tốt, tuy nhiên, xét về năng lực và quản trị, cả nhóm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn sơ khởi trên hành trình này.

* Doanh nghiệp nhỏ và lớn sẽ vận hành và thay đổi như thế nào sau đại dịch?

Nghiên cứu cho thấy cả doanh nghiệp nhỏ và lớn đều đang thiệt hại nặng nề vì cung và cầu đều giảm, nên cả hai loại hình doanh nghiệp này đều vấp phải những thách thức tương tự nhau nhưng quy mô ảnh hưởng có thể khác nhau ở những mảng khác nhau.

Trong khi nhiều doanh nghiệp lớn có thể có nguồn lực để thích ứng và định hướng nhanh hơn, họ đang phải ứng phó với bộ máy hành chính cồng kềnh khiến việc triển khai thường chậm chạp hơn. Còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể triển khai nhanh hơn vì họ có quy mô nhỏ hơn.

Ngay cả trước đại dịch, hầu hết doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam cũng đã đối mặt với nhiều khó khăn do khả năng quản trị doanh nghiệp kém, cạnh tranh cao, năng lực sáng tạo còn thấp, khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn và chi phí vận hành doanh nghiệp cao.

Vì vậy, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp tục gặp nhiều thách thức, không chỉ hiện tại mà còn trong tương lai, nếu cả doanh nghiệp và chính phủ không có những giải pháp phù hợp.

P29

* Doanh nghiệp vừa và nhỏ nên bắt đầu chiến lược chuyển đổi số như thế nào nếu họ thiếu định hướng, nguồn lực tài chính và con người?

Chuyển đổi số là quá trình đầy thách thức và khó khăn trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi lên chiến lược, các doanh nghiệp này nên cân nhắc đến ngành nghề mình đang hoạt động, đối thủ cạnh tranh, quy mô doanh nghiệp, ưu tiên của doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp, cũng như quyết tâm và sự kiên định của cấp lãnh đạo.

Dưới đây là một số gợi ý giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chiến lược chuyển đổi số toàn diện:

1. Cần hiểu rõ lý do chuyển đổi số. Nhiều bài học cho thấy những gì giúp doanh nghiệp thành công tại thời điểm này có thể sẽ không còn hiệu quả trong tương lai

2. Cổ suý tinh thần đổi mới sáng tạo

3. Xây dựng năng lực chuyển đổi số trong các hoạt động như quản trị doanh nghiệp, chiến lược số hóa, văn hóa doanh nghiệp, công nghệ và bảo mật, phân tích dữ liệu và nhân viên kỹ thuật

4. Hiểu rõ ai sẽ tham gia vào quá trình này. Ví dụ, không nên giao đứt cho một bộ phận phụ trách, mà cần quản lý toàn bộ dự án theo hướng tiếp cận từ trên xuống

5. Cân nhắc mô hình kinh doanh hiện tại theo lăng kính công nghệ, kỹ thuật số và thu thập dữ liệu. Ví dụ, đánh giá hành trình khách hàng hiện có và từ đó tìm cách ứng dụng công nghệ số để cải thiện trải nghiệm khách hàng

6. Ưu tiên hiệu chỉnh văn hóa doanh nghiệp, tầm nhìn công ty, quản trị rủi ro, xác lập mục tiêu, an ninh dữ liệu và nhân lực số

7. Hãy hành động ngay lập tức. Đừng đẩy mình vào vị trí của những doanh nghiệp lớn đã trì hoãn quá trình chuyển đổi số như Sears, Kodak, Nokia và Yahoo. Việc chậm thay đổi trong giai đoạn hiện nay sẽ có thể tác động nặng nề đến doanh nghiệp còn hơn tác động của COVID-19.

* Doanh nghiệp cần làm gì để phát triển kinh doanh và nên ưu tiên gì trong quá trình chuyển đổi số?

Chuyển đổi số không chỉ là thay đổi sang mô hình kinh doanh mới, mà còn là cơ hội để cải thiện đáng kể trải nghiệm khách hàng và tối ưu hóa quá trình vận hành.

Khi xác lập ưu tiên, nhìn chung cần cân nhắc hai yếu tố chính: tầm quan trọng và tính cấp bách của vấn đề. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần đưa thêm các yếu tố tác động trong ngắn hạn và dài hạn vào những ưu tiên của họ trong bối cảnh hiện nay.

Nguồn: Tạp chí Doanh nghiệp và Tiếp thị

P23Nghị quyết Đại hội XIII đã đưa ra những mục tiêu, tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI, cụ thể: (i) đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và (ii) đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để hình dung ra Việt Nam đến năm 2045, chúng ta cần nhìn lại hình hài Việt Nam 25 năm về trước, Việt Nam hiện tại và 25 năm sau.

Về quy mô nền kinh tế: GDP Việt Nam năm 1995 là 20,74 tỷ USD, còn rất nhỏ bé, đứng thứ 58 trên thế giới. Đến năm 2020, GDP Việt Nam khoảng 340 tỷ USD (gấp hơn 16 lần năm 1995), đứng thứ 37 thế giới, thuộc cận trên của nhóm thu nhập trung bình thấp, hội nhập quốc tế sâu rộng. Đến năm 2045, với giả định Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng 7%/năm giai đoạn 2021-2045, qui mô nền kinh tế khi đó sẽ đạt khoảng 1.850 tỷ USD (gấp 5,5 lần năm 2020), tương đương quy mô kinh tế của Hàn Quốc, Italia, Canada, Australia, Nga ….năm 2020.

Về thu nhập bình quân đầu người: TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV tạm thời dùng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người (dù chỉ tiêu này chưa phản ánh đầy đủ, toàn diện mức thu nhập của người dân, nhưng đang là chỉ tiêu được WB sử dụng để so sánh quốc tế và Nhóm tác giả sẽ đề xuất dùng các chỉ tiêu song hành khác sau). Theo đó, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 1995 là 290 USD (đứng thứ 175/195 quốc gia), năm 2020 là 3.520 USD (gấp 12 lần năm 1995, đứng thứ 121/195 quốc gia) và năm 2045 sẽ đạt khoảng 14.730 USD (với giả định GDP tăng trưởng 7%/năm và dân số tăng 1,1% giai đoạn 2021-2030 và 1,05% giai đoạn 2031-2045). Mức này vượt mốc 12.375 USD (cận dưới của nhóm nước có thu nhập cao); tương đương với mức thu nhập bình quân đầu người năm 2020 của Ba Lan (15.300 USD), cao hơn Malaysia năm 2020 (10.200 USD) và tương đương Trung Quốc năm 2025…(với giả định GDP của Trung Quốc tăng trưởng 7%/năm từ nay đến 2025…v.v. Với đà này, Việt Nam vẫn cách xa Trung Quốc khoảng 20 năm về thu nhập bình quân đầu người.

Về cơ cấu nền kinh tế: TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV không dùng số liệu về cơ cấu nền kinh tế năm 1995 (do phương pháp thống kê khi đó chưa tính đến thuế sản phẩm). Năm 2020, cơ cấu nền kinh tế Việt Nam ước tính là khu vực Nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 14,85% GDP; Công nghiệp – xây dựng 33,72%; Dịch vụ 41,63%, còn lại thuế sản phẩm 9,8%. Ước tính tốc độ tăng trưởng của 3 khu vực này và tham khảo mô hình phát triển của Hàn Quốc, Trung Quốc; đến năm 2045, khu vực Nông-lâm-ngư nghiệp dự báo chiếm khoảng 10%; Công nghiệp – xây dựng 37%; Dịch vụ 45%, còn lại là thuế sản phẩm khoảng 8%.

Về đóng góp của các khu vực, thành phần kinh tế:

Theo Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, năm 1995, kinh tế Nhà nước (KTNN) giữ vai trò chủ đạo, đảm nhận hầu hết các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế (đóng góp 40,2% GDP), kinh tế tư nhân (gồm kinh tế tập thể, doanh nghiệp tư nhân và hỗn hợp, hộ kinh doanh cá thể) đóng góp lớn (53,5% GDP) và khu vực FDI còn mới (đóng góp 6,3% GDP). Đến năm 2020, cùng với tiến trình cổ phần hóa và thoái vốn DNNN, kinh tế Nhà nước thu hẹp, đóng góp 27,1% GDP, kinh tế tư nhân 42,7% GDP và khu vực FDI phát triển, đóng góp 20,2% GDP.

Đến năm 2045, theo Nhóm tác giả, với chủ trương Việt Nam tiếp tục cổ phần hóa DNNN, đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng và thu hút FDI sàng lọc hơn; khi đó, đóng góp của 3 khu vực này được dự báo sẽ là KTNN (khoảng 18-20% GDP), kinh tế tư nhân (60–65% GDP) và khu vực FDI (18-20% GDP).

Về đóng góp của kinh tế số: với chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia theo xu thế chung và tận dụng cơ hội, nền kinh tế cũng sẽ dịch chuyển từ mô hình tăng trưởng chiều rộng sang chiều sâu, lấy năng suất dựa trên nền tảng KH-CN, đổi mới sáng tạo. Theo đó, kinh tế số sẽ phát triển nhanh và giữ vai trò ngày càng lớn. Theo số liệu từ Temasek (tháng 11/2020), năm 2020, kinh tế số Việt Nam chiếm khoảng 5,2% GDP. Đảng và Nhà nước đưa ra mục tiêu kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP năm 2030 và dự báo chiếm 40-45% GDP đến năm 2045.

P24

Thực hiện công cuộc đổi mới từ đầu năm 1987, đến nay Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Tăng trưởng kinh tế 25 năm qua (1996-2020) đạt bình quân là 6,51%/năm, nhưng cái giá phải trả hơi đắt, đó là lạm phát khá cao, bình quân cả giai đoạn này là 6,03%/năm.

Với cơ hội đan xem thách thức, với nội lực, vị thế và tiềm năng, nhất là về năng suất, Việt Nam có thể đạt được mục tiêu này với mức tăng trưởng bình quân 7%/năm từ nay đến năm 2045 với 4 điều kiện quan trọng. Một là, cần nắm bắt được xu thế, vị thế để có thể tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức. Hai là, cần thẳng thắn nhận diện đúng và trúng thế mạnh, điểm yếu của Việt Nam để phát huy (điểm mạnh) và khắc phục điểm yếu (rào cản) đó. Ba là, cần có niềm tin, khát vọng và phát huy sức mạnh tổng hợp (như Thủ tướng đã từng đề cập). Điều này rất đúng vì sức sáng tạo, năng suất tiềm năng của con người là rất lớn; nếu biết cách tập hợp, phát huy và nhân rộng thì kết quả mang lại rất tích cực. Khảo sát của nhóm nghiên cứu Trường Quản trị Kinh doanh Harvard năm 2013 đối với gần 20.000 doanh nghiệp lớn trong giai đoạn 18 năm cho thấy lợi nhuận của các doanh nghiệp có nền tảng văn hóa doanh nghiệp mạnh cao gấp 1,5 lần so với doanh nghiệp bình thường. Bốn là, cần xác định đúng và nhất quán thực hiện các đột phá chiến lược đã đưa ra cùng với sáu giải pháp chiến lược như Nhóm tác giả gợi ý dưới đây.

Sáu giải pháp chiến lược

Ngoài ba đột phát chiến lược đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII vừa qua là hoàn thiện thể chế, phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao như đã được thực hiện trong 10 năm qua (nhưng lần này yêu cầu ở tầm cao hơn, chất lượng hơn); để đạt được mục tiêu trên, cùng với mục tiêu phát triển bền vững và bao trùm, TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV gợi ý 6 giải pháp chiến lược sau.

Một là, phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội xanh là tất yếu. Giải pháp này mới đảm bảo phát triển bền vững; giảm tổn thất môi trường, xã hội; đảm bảo an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh y tế và tăng chất lượng cuộc sống và “sức khỏe vật chất và tinh thần” (wellness) cho người dân.

Hai là, đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế số, Chính quyền số và xã hội số; vừa là để tăng năng suất lao động, vừa là theo kịp xu thế và giảm rủi ro lây lan dịch bệnh do tương tác trực tiếp. Theo Báo cáo của Tổ chức tư vấn CSIRO (Úc) phối hợp Bộ KH-CN năm 2019, nếu Việt Nam lựa chọn phương án “Chuyển đổi số”, GDP Việt Nam có thể tăng thêm 1,1 điểm %/năm đến năm 2035. Để đạt được chỉ tiêu kinh tế số chiếm đến 30% GDP năm 2030 (như Nghị quyết của Đại hội và Chương trình chuyển đổi số quốc gia của Chính phủ), phấn đấu đạt 40-45% GDP năm 2045, thì kinh tế số cần tăng trưởng 15%/năm.

Ba là, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, góp phần tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng phát triển lâu dài, phù hợp với định hướng tập trung khai thác, nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường nội địa và hỗ trợ các DNNVV. Kinh tế tư nhân (gồm cả doanh nghiệp tư nhân, kinh tế tập thể và hộ kinh doanh cá thể), đóng góp 42,7% GDP năm 2020. Theo tính toán sơ bộ của Nhóm tác giả, nếu đầu tư tư nhân (chưa tính đến hộ kinh doanh cá thể) tăng 1%, thì GDP Việt Nam có thể tăng trưởng thêm 0,16 điểm %.

Bốn là, chú trọng tăng năng suất, coi đây là vấn đề then chốt đảm bảo phát triển nhanh, bền vững và bao trùm. Kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc cho thấy để có được phát triển nhanh và bền vững giai đoạn 1980-2000 (tăng trưởng 7,8%/năm) thì tốc độ tăng trưởng của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) khoảng 2%/năm và đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP khoảng 40% (theo CIEM). Cùng với đó, năng suất lao động trong giai đoạn này tăng 6,2%/năm (theo OECD).

Năm là, đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế, qua đó tăng hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực; tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và khai thác hiệu quả hội nhập quốc tế (từ mức 37% lên 50-60% các FTAs như các nước trong khu vực); qua đó góp phần tăng xuất khẩu và thu hút FDI bền vững.

Cuối cùng, hết sức chú trọng đảm bảo ổn định nền tảng vĩ mô; tăng năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ, tự cường và chống chịu của nền kinh tế đối với các cú sốc. Bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình phát triển 25 năm qua là Việt Nam đã phải trả giá khá đắt về bất ổn vĩ mô ở nhiều thời điểm (lạm phát bình quân tăng 6,03%/năm giai đoạn 1996-2020), tỷ giá biến động khá mạnh (nhất là giai đoạn trước năm 2016), ô nhiễm môi trường và không khí tăng (nhất là ở những thành phố lớn), hiện tượng khí hậu cực đoan ngày càng phổ biến, còn phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI về xuất khẩu, tính kết nối của các khu vực doanh nghiệp và liên kết vùng lỏng lẻo…v.v.

Kết luận: Việt Nam có quyền hy vọng đạt được mục tiêu là trở thành nước phát triển, thu nhập cao đến năm 2045 với những giả định và điều kiện nhất định. Thành quả đó phụ thuộc vào khát vọng, niềm tin; vào việc thực hiện thành công 3 đột phát chiến lược đã đề ra và sáu giải pháp chiến lược nêu trên. Những quyết sách quan trọng này đang chờ lãnh đạo nhiệm kỳ mới. Với vận hội mới, khí thế mới, vị thế mới; chúng ta có quyền kỳ vọng vào sự bắt tay quyết liệt, hành động cụ thể và hiệu quả của các lãnh đạo.      

TS. Cấn Văn Lực và nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV

Page 1 of 20

Các khóa học đang diễn ra

Danh mục

 

LUONG3P-01

Capture copy

 

KPIBCS-600x400-2 copy

 

học tin học văn phòng tại hà nội

nghiên cứu thị trường

Thống kê truy cập

 
:

Về chúng tôi

Sứ mệnh: Xây dựng Viện thành nơi hội tụ và tỏa sáng của tri thức, đảm bảo tốt điều kiện để các thành viên sáng tạo và phát triển, kiến tạo được các sản phẩm khoa học và giáo dục với hàm lượng giá trị gia tăng cao hướng tới thỏa mãn tối  đa nhu cầu thiết thực của khách hàng.

Giá trị cốt lõi: Sáng tạo, chuyên nghiệp, hiệu quả.

Slogan: Kiến tạo tri thức - Cộng hưởng giá trị!

FACEBOOK IEIT

Picture1